THÁNH ÐỊA MỸ SƠN

THÁNH ÐỊA MỸ SƠN

TRONG TƯ DUY CỦA HẬU DUỆ CHAMPA

ÐẮC VĂN KIẾT

ÐÔI DÒNG LUNG KHỞI:

Trong những năm sau cùng của thời kỳ hậu bán thế kỷ xx, nhận loại đã biết trân quí những giá trị “Di Sản Văn Hóa” do bàn tay và khối óc của con người tạo nên; và ra sức bảo tồn, gìn giữ trước những biến đổi của thời gian, mục đích để vinh danh con người đã góp sức và tài năng của mình từ thế hệ này, sang thế hệ khác. Kết nối với nhau và mãi mãi, để xây dựng cho cộng đồng nhân loại, có một đời sống phong phú về các yếu tố lịch sử, văn hóa nghệ thuật, khoa học và tâm linh v.v… tất cả đều vươn lên trong tinh thần nhân bản và “ôn cố tri tân”, giúp nhân loại tiến đến cộng sinh với nhau trong hòa bình và nhân ái, trước mọi cảnh can qua của thế sự, cũng như mọi sự đổi thay trong vũ trụ bao la này.

Trong vũ trụ có tinh tú, mặt trời, mặt trăng; có biển cả mênh mông và núi non trùng điệp chất ngất .v.v…, tạo nên những thắng cảnh thiên nhiên, tô điểm cho vũ trụ muôn màu, muôn vẻ. Nhưng, con người là những sinh thể tinh khôn nhất trong vũ trụ. Nếu vũ trụ không có loài người, người sống cũng như người đã chết, thì vũ trụ chỉ là những khối vật thể tự nhiên, bất động và không có hồn. Phần hồn của vũ trụ, không những là thế giới sinh động của những động vật quần sinh, đang hiện hữu trên hành tinh này; mà còn bao gồm cả lớp lớp tiền nhân đã ra người thiên cổ; nhưng, những công trình sáng tạo về văn hóa nghệ thuật, về khoa học và lịch sử cũng như về tâm linh — thật là vĩ đại của họ — vẫn còn lưu dấu tích, sừng sững với thời gian, trơ gan cùng tuế nguyệt, để soi sáng cho hậu thế, thể hiện qua các “Di Sản Văn Hóa Nhân Loại”. Những “di sản nhân loại” cũng chính là phần hồn của vũ trụ, và làm cho vũ trụ thêm phần sinh động; khiến cho những người có mỹ cảm về “vũ trụ quan” không muốn xa rời vũ trụ, để ra đi trong vĩnh cửu.

Nói đến “Di Sản Văn Hóa” nhân loại “là nói đến những ưu tư thổn thức của con người, là nói đến những kiến tạo do chất xám của con người làm ra; là nói đến những trang sử dựng nước và giữ nước, được viết bằng máu xương và nước mắt lẫn tiếng hoan ca của một dân tộc. Trong “Di Sản Văn Hóa”, cũng có những niềm vui và hạnh phúc có cả tủi nhục lẫn kiêu hãnh v.v… của một dân tộc đã ký thác lại trong những công trình “Di Sản” để lưu dấu ngàn sau cho hậu thế.

Theo tinh thần công ước 1972, Liên Hiệp Quốc đã qui định những phương thức bảo vệ, gìn giữ tài sản thiên nhiên và “Di Sản Văn Hóa” nhân loại.

Trong phiên họp thứ 23 tại thành phố Marrakesh (Marroco) ngày 01/12/1999, ủy bản Di Sản Unesco đã long trọng tuyên bố: “Thánh Ðịa Mỹ Sơn’ là “Di Sản Văn Hóa Thế Giới”.

Ðối với hậu duệ của dân tộc Champa, nói đến “Thánh Ðịa Mỹ Sơn” là nói đến những dòng tư duy huyền mặc sau đây:

* Thánh Ðịa Mỹ Sơn” là “Quê hương Thần Thánh” dưới trần gian.

* Là Trung Tâm Thần Quyền và dòng lịch sử thăng trầm của Vương Quốc Champa trong bia ký Mỹ Sơn.

* Là tính Huyền Thoại trong Nghệ Thuật Kiến Trúc và điêu khắc Champa, rực rỡ trong nền văn minh thời Trung Cổ!

* Là “Tiếng Quốc gọi hồn” của muôn kiếp dân CHIÊM trong nỗi sầu Vạn Cổ!

 

*

 

Thánh Ðịa Mỹ Sơn là “Quê Hương Của Thần Thánh dưới trần gian.

Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, người đời thường nghĩ rằng: Thần Thánh hiển linh, có quyền pháp vạn năng, huyền bí và trừu tượng, đều ngự trị trên trời, trên thương giới bao la vô tận; Thiên thủ thiên nhãn và nhìn thấu hết mọi việc của trần gian, chi phối đời sống con người dưới thế gian như trừng phạt, che chở, bảo bọc, ban phước v.v…

Do đó từ lúc hoang sơ cho đến thời cổ đại, rồi trung cổ và bàng bạc cho đến thời nay; con người có đức tin vào thần quyền, nên ra sức thờ phượng tế tự Thánh Thần hiển linh để được che chỡ, ban phước khi hoạn nạn, trắc trở hiểm nghèo, tai ương đến với họ trong cuộc sống ở trần gian.

Sự kiện này đã ảnh hưởng sâu đậm vào tâm tư con người và đã kiến tạo cho họ một đời sống tâm linh mầu nhiệm, khả dĩ mang đến cho con người một đời sống yên bình tốt đẹp, từ vua quan đến thần dân; hay ít ra đời sống tâm linh đó, mang đến cho họ, sự an tâm vì có đức tin và làm điều lương thiện.

Ðời sống tâm linh ở đây không những nói lên đức tin vào Thần quyền, mà còn nói lên cả một đạo lý làm người trong việc  cúng tế, thờ phượng các bậc tiền hiền, tổ tiên, ông bà cha mẹ đã khuất bóng; vì đó là sợi giây vô hình nối liền giữa người xưa và nay. Tâm linh ở đây không phải là mê tín dị đoan, lại càng không phải là cực đoan cuồng tín; mà là tín ngưỡng đầy tính nhân bản và thấm đượm nét nhân văn của truyền thống nhân đạo loài người (Nhân Tri Sơ Tính Bản Thiện).

Tín ngưỡng cũng không thể phân tích, chứng minh, mang chất lý tính của khoa học; nhưng phải mặc nhiên chấp nhận, cho dù trong tín ngưỡng có màu sắc và bóng dáng của huyền thoại, bởi vì huyền thoại không phải hoàn toàn là Thần thoại. Huyền thoại còn được xem như những dòng lịch sử truyền khẩu của dân gian, còn có giá trị khách quan và trung thực hơn chính sử được viết bởi những kẻ nô bộc, mà ngòi bút của họ đã bị uốn cong bởi các chế độ độc tài hay hôn quân bạo chúa, muốn tô son điểm phấn cho quyền lực của họ hay những kẻ quan niệm lịch sử theo bản chất chủ nghĩa dân tộc cực đoan của họ. Thế cho nên có một triết gia đã nói: “Huyền thoại không thật mà thật”.

Ngày nay, của thiên niên kỷ thứ ba này, nhân loại đang trầm mình trong đời sống khoa học kỹ thuật cực thịnh, với tiện nghi vật chất sung mãn; nhưng trong tâm thức con người vẫn bàng bạc một niềm tâm linh như nguồn sáng đầu tiên của ban mai, đem lại nguồn sống cho vạn vật sau một đêm tối trời; như một dòng suối mát của mùa hè, làm cho đời sống oi bức, bon chen, nghiệt ngã này trở nên dịu mát hơn. Cho nên cá nhân gia đình thì lập bàn thờ cúng kính, nhớ ơn ông bà tổ tiên. Xóm làng, địa phương cộng đồng thì lập chùa, nhà thờ, thánh thất v.v… Vua chúa, quốc gia thì lập nên những đền đài, thánh địa, quần thể kiến trúc nguy nga rực rỡ, mục đích làm nơi thờ phượng, tế tự, cầu nguyện v.v… cho quốc thái dân an cho vương quyền được trường tồn.

Ngược dòng lịch sử nhân loại, ta thấy mỗi dân tộc đều có đời sống tâm linh của họ, như các dân tộc tại một vài quốc gia sau đây:

– Ai Cập (Egypt), vua Pharoah Ramses đệ II đã xây đền đài Abusimbel để thờ thần mặt trời Raharaklite linh hiển, để cầu nguyện điều tốt đẹp cho đất nước và dân tộc của Ngài.

Ở Peru có lập Thánh địa lịch sử Machu – Picch, đặt tại một nơi hoang vu hiểm trở, cây cối phủ kín, rất khó khăn trong việc đi lại thăm viếng của khách hành hương. Nghệ thuật kiến trúc bằng khối đá cực lớn, xếp lớp với nhau ngay ở dọc sườn núi dựng đứng trông rất hùng vĩ. Tại Thánh địa này có đặt một đĩa lớn bằng vàng tượng trưng cho mặt trời. Khi ánh sáng mặt trời chiếu rọi thẳng vào đĩa vàng này, đó chính là lúc hành lễ.

– Tại quần đảo SIP người ta lập Thánh địa Paphos để thờ thần Aphrodite. Thánh địa này được thu hút khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới tìm về Thánh địa Paphos để dâng hoa cho vị nữ Thần Aphrodite linh hiển này.

– Tại Ấn Ðộ khu đền đài thờ Thần Shiva là một quần thể kiến trúc được xây dựng dưới triều đại nhà vua Ratjasimha vào khoảng năm 700. Ngôi đền Shiva bên cạnh bờ biển cao ngất lên trời xanh như một ngọn hải đăng khổng lồ, để đưa đường chỉ lối và che chở cho ai sùng kính đấng Shiva linh hiển. Ngôi đền Shiva này được chạm trổ điêu khắc đủ loại: Thần Linh, súc vật, câu chuyện thần thoại nổi tiếng của Ấn Ðộ qua phong cách nghệ thuật tình tự, sống động và mang chất trữ tình lãng mạng của nghệ thuật văn hóa Ấn Ðộ; đến nỗi các nhà khoa học đã ví khu đền như là đỉnh Everest của nghệ thuật thời trung đại của Ấn Ðộ.

– Tại Trung Quốc dưới triều đại Nhà Minh và nhà Thanh, các Hoàng Ðế Trung Hoa vào năm 1420, đã xây dựng trên một khu đất rộng đến 2.730.00 m2 một THIÊN ÐÀNG DƯỚI TRẦN GIAN. Nghệ Thuật kiến trúc theo hình tròn để tượng trưng cho Trời. Thiên đàng nằm phía nam Thành Bắc Kinh, là một quần thể kiến trúc Tế Tự đạt đến một trình độ nghệ thuật rất cao. Lập nên Thiên Ðàng này, mục đích các Hoàng Ðế Trung Hoa làm nơi tế tự TRỜI ÐẤT để cầu mưa thuận gió hòa, thần dân được ấm no hạnh phúc, đất nước được thanh bình trường cữu; và còn biết bao công trình kiến trúc đền tháp tâm linh trên thế giới này v.v…

Ngược dòng thời gian, trở về đất nước Champa cổ kính, ngàn năm văn vật với Tháp thiêng hùng tráng, đã đi vào lịch sử vài trăm năm nay. Theo lối mòn Tâm linh nhân loại, Các Vương Quyền của quốc gia cổ này đã xây dựng một miền đất tâm linh kỳ vĩ để thờ phượng tế tự Thiên Thần. Miền đất tâm linh đó là Thánh Ðịa Mỹ Sơn. Nói đến Thánh Ðịa Mỹ Sơn là nói đến quê hương của Thần Thánh dưới trần gian và được thành lập theo trình tự của bối cảnh lịch sử sau đây:

Trước hết phải nói đến: “Cái Bao Lơn” nhìn ra biển Thái Bình Dương. Ðó là giải đất miền Trung Việt Nam ngày nay. Giải đất ấy từ Quãng Bình đến Bình Thuận. Một bên là dẫy Trường Sơn chập chùng bí hiểm. Một bên là Thái Bình Dương rộng lớn mênh mông. Ở giũa là thung lũng hẹp, mưa nắng hai mùa, thuộc vùng nhiệt đới gió mùa. Ðất đai không màu mở phì nhiêu như miền Nam VN, nhưng cư dân bản địa nơi đây đều có lòng dạ sắt son với quê cha đất tổ; và đã có một đời sống an lạc trong cảnh trăng lên hoa nở của ruộng đồng và cảnh “sóng yên biển lặng”, đếm sao trời bắt cá biển đông của ngư phủ thuộc cư dân vùng dất, mà sau này các nhà khảo cổ học gọi là vùng đât thuộc nền văn hóa Sa huỳnh. Cư dân này không phải là người Trung Hoa, không phải là người Việt Cổ, không phải là dân Campuchia, cũng không phải là dân Lào hay Phù Nam. Cư dân bản địa của nền văn hóa Sa huỳnh này, sống dưới sự cai trị của các viên Thái Thú Trung Hoa. Ðến những thế kỷ dầu công nguyên, nhiều thư tịch Trung Hoa đã nhắc đến họ như là một dân tộc đầy bản lĩnh: đó là dân tộc Champa.

Cho đến gần cuối thế kỷ thứ II (192) sau công nguyên, vì không thế chấp nhận cuộc sống cúi đầu một cách triền miên dưới chê độ cai trị hà khắc của Trung Hoa; Khu Liên một anh hùng của cư dân đang sống trong cảnh lầy lội, áp bức trong huyện Tượng Lâm đã cùng với cư dân trong huyện vùng lên chiếm lấy chủ quyền và tuyên bố độc lập, thành lập Quốc gia đặc Quốc Hiệu là Lâm Ấp, kinh đô đầu tiên đặt tại Trà Kiệu tức Indrapura, cách Ðà Nẳng ngày nay khoảng 40 km về phía nam. Kinh đô Trà Kiệu được xây trên một chu vi rộng lớn, bao gồm thành quách, lâu đài tráng lệ, nhà ở, hào sâu bao bọc chung quanh.

Toàn dân vui hát khúc hoan ca dưới ánh nắng đào của bầu trời Lâm Ấp, một quốc gia non dại vừa mới được thành lập trong sự dũng cảm và đầy lòng tự tin của dân tộc này.

Trong xã hội nguyên thủy, khi chưa lập quốc cũng như giai đoạn ban sơ lập quốc; dân tộc Chămpa chưa tiếp nhận một hệ thống Thần Quyền nào, bởi vì lúc ấy chưa có bóng dáng Tôn Giáo du nhập vào các nước Ðông Nam Á trong giai đoạn này. Tất cả niềm tin về tâm linh của con người đều phát xuất từ tín ngưỡng dân gian bản địa.

Tay trong tay, từ cao nguyên xuống đồng bằng (miền Trung Việt Nam ngày nay); dân Lấm Ấp dưới sự lãnh đạo của Khu Liên, tiếp tục phát triển đời sống kinh tế, xây dựng xã hội, kiện toàn kỹ cương quốc gia, an ninh quốc phòng để gìn giữ đất nước vừa mới thành lập. Các tín ngưỡng dân gian bản địa mang tính đa thần, dần dần biến thành phong tục tập quán rồi với đà phát triển kinh tế, xã hội tín ngưỡng dân gian biến thành Lễ hội dân tộc có tầm cỡ quốc gia và là chất liệu cấu thành bản sắc dân tộc.

Khu Liên làm vua được vài chục năm, sau đó nhường ngôi lại cho cháu ruột là Phạm Hùng, tiếp tục cai trị đất nước cho đến cuối thế kỷ thứ III.

Sau khi quốc gia được hoàn toàn ổn định, đường lối ngoại giao (chánh sách đối ngoại) được đặt ra với các nước lân bang; có lẽ từ thời điểm này, văn hóa và tôn giáo Ấn Ðộ, quê hương của huyền bí với số Thần Linh Thiên Thủ Thiên Nhãn đầy quyền lực vạn năng, đã theo chân giới thương buôn Ấn Ðộ từ bên kia bán đảo lục địa xa xôi rộng lớn, ngăn cách bởi dẫy Hy Mã Lạp Sơn chập chùng cao ngất hùng vỹ, đi vào đất nước Lâm Ấp một cách ôn hòa, êm đềm và dễ chịu, ảnh hưởng vào lớp tăng lữ, lớp thống trị vua, quan và lớp quý tộc của xứ xở Lâm Ấp.

Các Vương quyền đất nước Lâm Ấp, hơn ai hết đã ý thức trọng trách gìn giữ non sông xã tắc Lâm Ấp, đẹp như gấm hoa. Biết lòng người nham hiểm và đầy tham vọng; với thân phận một nước nhỏ, đất rộng dân thưa, bản chất hiền hòa chân thật, sức người không giữ nổi mãnh đất bản địa của tiền nhân, đã đổ mồ hôi, nước mắt, dày công khai sơn phá thạch để cho hậu thế Lâm Ấp được sống an lành; nên đành lòng phải bám víu vào Thần Linh có quyền Pháp Vạn năng, co thể che chở, bảo bọc non sông gấm vóc Lâm Ấp và cho sự trường tồn của dân tộc này.

Rồi từ đó Ấn Ðộ Giáo (Hinduisne) hay (Brahmanism) là ngọn hải đăng soi đường chỉ lối cho các Vương Quyền Lâm Ấp trong thiên chức gìn giữ quê hương đất nước và dân tộc các ngài.

Có 03 vị Thần chính đã ngự trị vào tư duy các Vương Quyền Lâm Ấp thời bây giờ:

– Brahma: Thần sáng tạo, ngự trị trên đỉnh núi Huyền Thoại Meru; tiêu biểu cho sự sinh ra, sự chết và sự tái sinh, cai quản cả vũ trụ.

– Vishnu: Là Thần bảo trì vũ trụ, hiện thân của lòng hào hiệp và tính khoan dung, độ lượng và ngự trị trên đỉnh núi Meru.

– Shiva: Là Thần phá hủy nhưng có vai trò tái sinh, qua hình tượng Linga, tiêu biểu cho quyền năng sáng tạo, ngự trị trên đỉnh núi Kailas.

Cả 03 vị Thần nêu trên có liên hệ mật thiết với nhau, trong quyền năng cai quản, bảo trì và tái tạo vũ trụ, nối tiếp nhau trong vô tận.

Vương quyền ở đây có nghĩa là vua, theo ngôn ngữ Ấn Ðộ gọi Vương Quyền là Râja là người đứng đầu quốc gia, tượng trưng cho quốc gia, có cả quyền thế tục và quyền thiêng liêng; do các Tu sĩ uyên thâm đạo pháp thực hiện nghi thức, cầu xin Thần Thánh hiển linh ban cho các vị Vua. Do đó các vua Lâm Ấp (sau này gọi là Champa) thường đồng hóa với tên các Thần bằng cách ghép phần đầu của tên mình vào tên hiệu các Thần, vơiù hoài bảo thay mặt muôn dân để cầu nguyện, tế tự Thần Thánh linh thiêng xin được bảo vệ Vương Quyền, tổ quốc và dân tộc các Ngài; để rồi từ đó các vị vua Lâm Ấp có quyền thống trị và cai quản muôn dân.

Vương Quyền đầu tiên đi vào “mê hồn trận” của các vị Thần nêu trên là vua: Bhadravarman I, và cũng là vị Vua đầu tiên lập nên Thánh Ðịa Mỹ Sơn vào cuối thế kỷ thứ IV.

Như phần trên đã trình bày, các vị Thần Linh không sống ở đời thường với dân gian, mà chỉ sống ở miền quê hương xa xôi mầu nhiệm nào đó của Thần thánh: có thể là trên Thượng giới vô biên hay trên thâm sơn hùng vĩ v.v…

Ở đây các vị Thần linh hiển của Ấn Ðộ Giáo nêu trên đều sống trên đỉnh núi huyền thoại Mêru và Kailas. Do đó vua Bhadravarmon đệ I, phải chọn một không gian thích hợp để xây dựng “quê hương Thần Thánh” nơi trần gian để thờ phượng, tế tự và không đâu hơn là Thánh Ðịa Mỹ Sơn. Bởi vì kinh đô Trà Kiệu đầu tiên của Lâm Ấp, cách nơi Thánh địa chừng 30km. thánh địa này chính là Thánh Ðô của Quốc Gia và cũng là Trung Tâm Thần Quyền, của quốc gia Lâm Ấp thời bấy giờ. Sau này, mỗi Quốc Vương sau khi lên ngôi đều phải đến Thánh đô làm lễ thánh tẩy và dâng cúng lễ vật cho Thần Linh.

Kinh đô Trà Kiệu (Indrapura) nối liền với Thánh Ðô Mỹ Sơn bằng một dẫy núi thấp. Một con đường đất ngoằn ngoèo ven theo dẫy núi thấp thẳng về hướng tây, sẽ gặp một thung lũng hẹp trong hóc núi, với đường kính chừng 2km và có một con suối sâu chảy theo hướng Bắc, cắt đôi thung lũng này. Khi vào trung tâm Thánh địa phải đi qua con suối. Chung quanh Thánh địa được bao bọc bởi những thành lũy thiên nhiên hiểm trở. Phía dông có dẫy núi Sulaha, phía tây là núi Kusala, phía nam là núi Mahaparvata (ngọn Ðại Sơn hùng vĩ). Phía bắc là con suối sâu cắt ngang thung lũng. Không gian Thánh địa có vẻ thâm u với rừng sâu núi thẩm bao phủ. Khi tôi đến nơi đây vào ngày 27 tháng 8 năm 2010 trong buổi sáng mai trời còn rất sớm, còn nghe tiếng chim kêu, tôi nghe rõ nhất hai tiếng chim trong nhiều tiếng chim ca khác đó là chim Bìm Bịp và chim Chích Chòe. Lúc này mặt trời đã lên rồi mà thấy cảnh núi rừng vẫn còn như ngái ngủ. Ðường vào Mỹ Sơn ngày nay không phải là đường đất ngoằn ngoèo như ngày xưa, di chuyển bằng ngựa, voi, trâu bò v.v… Ðường đất đó ngày nay đã tráng nhựa. Khúc đường vào ngay trung tâm Thánh địa chừng 500m thì đã lót gạch vuông màu sậm đẹp và bằng phẳng.

 

 

Tại khu  B đền Tháp Mỹ Sơn

 

Từ cuối thế kỷ IV liên tiếp cho đến thế kỷ XIII: Thánh địa này đã được các Vương Quyền xây dựng và phát triển hơn 70 đền tháp để thờ phượng Thần Linh với một tổng thể kiến trúc và điêu khắc phong phú và đa dạng, chia ra nhiều khu vực có đặc trưng khác nhau về tiêu tiết nhưng vẫn thờ phượng các thầnh Linh nêu trên.

Vìa địa thế đặc biệt của khu thánh địa này, nên nhiều nhà nghiên cứu, khi đặt chân đến tận nơi đây, quan sát tận mắt đều cho rằng: Ngoài mục đích xây dựng một khu vực Thần Quyền, nơi đây còn mang tính cách một khu vực chiến lược phòng ngự, được bảo vệ bởi những vòng chiến lũy thiên nhiên hiểm trở khi quốc gia hữu sự!?

Những chi tiết về đền đài thờ phượng tế tự Thần linh trong khu Thánh địa hùng tráng này, sẽ được đề cặp trong phần kiến trúc, điêu khắc một cách rõ nét và sinh động.

 

TRUNG TÂM THẦN QUYỀN VÀ DÒNG LỊCH SỬ THĂNG TRẦM CỦA VƯƠNG QUỐC CHAMPA TRONG BIA KÝ MỸ SƠN

Không hiểu đây có phải là dòng định mệnh báo trước của một dân tộc bất hạnh, khiến cho các vua Champa ngay trong thời còn hưng thịnh, đã trước tác trên đá những vấn đề sinh tử có liên quan đến lịch sử, văn hóa nghệ thuật và yếu tố tâm linh của một dân tộc, mà ngày nay, qua những vòng xoay tàn nhẫn, bất công của bánh xe lịch sử nhân loại, những tàn phá khủng khiếp của thời gian, và những bàn tay không lương thiện của con người; khiến cho hậu duệ Champa chỉ còn biết tìm lại cội nguồn và tiến trình lịch sử của dân tộc mình qua các bia ký còn lưu lại, mà các nhà khoa học khảo cổ đã tìm được chỉ còn 127 tấm bia ký. Với số lượng văn bia này có nói lên được bao nhiêu vấn đề của một dân tộc!? đã từng anh dũng chống lại sự cai trị hà khắc và tàn bạo của những viên Thái Thú Trung Hoa để đứng lên lập quốc; đã có ngôn ngữ và chữ viết sớm nhất ở Ðông Nam Á; đã có một nền văn minh nông nghiệp phát triển, biết yêu đời sống biển cả; có một trình độ văn hóa nghệ thuật sáng chói trong nền văn minh cổ, một đức tin tâm linh hiền hòa êm ái v.v…

Như trên đã nói, các nhà khảo cổ học chỉ còn tìm được 127 tấm bia ký. Vì chiến tranh tàn phá, vì thời gian và con người vô tình đã khiến cho bia ký Champa còn lại không bao nhiêu. Riêng ở Mỹ Sơn chỉ phát hiện được 32 bia ký và hàng trăm mảnh bia ký vỡ tan vì bom đạn B-52. Những bia ký trong Thánh địa Mỹ Sơn (theo các học giả nghiên cứu xác định) có những niên đại liên tục và kéo dài xuyên suốt trong lịch sử chuyên từ thế kỷ V – thế kỷ XIII. Các bia ký đều do các vì vua dựng lên, tu bổ để lưu lại những trang lịch sử bằng đá tồn tại cho đến ngày nay.

Những bia ký chính ở Thánh Ðịa Mỹ Sơn được các nhà khảo cổ, các học giả phân loại sau đây:

Bia ký số I do vua Bhadravarman I: lập nên và Ngài cũng chính là vị vua đầu tiên xây dựng Thánh Ðịa Mỹ Sơn để Thờ các vị Thần trong Ấn Giáo: Brahma; Vishnu, Shiva và các vị Thần khác để che chở, bảo vệ cho Vương Quyền, tổ quốc và dân tộc Champa.

Vua Bhadravarman thờ thần Bhadresvara tức Thần Shiva là đấng tối cao ngự trị muôn loài. Thần Shiva thờ tại Mỹ Sơn biểu hiện dưới hình thức một bộ sinh thực khí Linga.

Trong nội dung Bia Ký số I, Vua Bhadravarman phán:

– Lòng sùng kính với Shiva, Brahma, Visnu, với Ðất, Gió, Không gian, nước và lửa.

– Chuộc lỗi cho tất cả những việc ác độc, để thi hành những việt tốt, việc Thiện và để thực hiện được số phận của kiếp người, vua Bhadravarman sùng kính dưới chân Thần Bhadresvara tức thần Shiva.

– Cúng dâng vĩnh viễn phần đất đai trong thung lũng khu vực Thánh địa (Ðông giáp núi Sulaha; Tây giáp núi Kusala; Nam giáp núi Ðại Sơn (Mahaparvata); Bắc giáp Con Suối Sâu), ruộng vườn, cư dân và hoa lợi quanh vùng cho việc cúng tế Thần Bhadresvara.

– Nếu kẻ nào cướp bóc hay phá hoại vùng đất này bằng sức mạnh thì người dân ở đây không có lỗi; tội là của kẻ gây ra chuyện cướp phá kia.

– Người nào phá hoại những đồ  dâng cúng đó, thì tất cả thiện quả, phúc đức của người ấy tích được từ các kiếp khác nhau đều thuộc về ta; vầ tất cả việc xấu mà ta gây ra sẽ trở thành của các người. Ngược lại, người nào mà giữ gìn tốt các đồ vật dâng cúng THẦN, thì công đức đó chỉ thuộc về người ấy thôi. Ai không gìn giữ mà phá hoại, thì người đó sẽ bị tiêu hủy.

 

Bia ký của Vua SAMBHUVARMAN

Hơn hai thế kỷ sau, ngôi đền đầu tiên tại Thánh Ðịa Mỹ Sơn do Vua Bhadravarman I lập nên đã bị hỏa hoạn thiêu hủy dưới thời vua Rudravarman (khoảng giữa năm 529-577). Người kế vị vua Rudravaman (có lẽ là con trai ông ta) là vua Sambhuvarman. Sau khi lên ngôi, vua Sambhuvarman đã đẩy lui cuộc xâm lược của Trung Hoa do Tướng Lưu Phương điều binh đánh vào Kinh Ðô Trà Kiệu. Sau đó Ngài cho dựng lại ngôi đền Bhadresvara đã bị hỏa hoạn bằng những vật liệu bền vững hơn với tên Thần Sambhubhadresvara.

Trong bia ký của Vua Sambhuvarman đã thành lập cũng có nói đến vị vua đầu Bhadravarman cai trị vào năm 400 (thế kỷ IV), lập đền thờ Thần Bhadresvara và sau bị hỏa hoạn.

Văn bia của vua Sambhuvarman cũng nói đến việc dâng cúng đất đai, cư dân, hoa lợi v.v… như vua đầu tiên lập Thánh địa.

Vị vua Sambhuvarman được ca ngợi như là “mặt trời chiếu trên mặt đất, sáng rực trong cõi tối tăm; lòng dũng cảm của Ngài đã đem lại ánh vinh quang rạng rỡ…”. “Ðời sau, con cháu Vua Sambhuvarman ca ngợi Ngài là người có công xây đền mới, đem lại an vui và thịnh vượng cho đất nước và dân tộc Champa. Ngôi đền mới này, sau trở thành Thánh Ðường Quốc Gia.

 

NHỮNG BIA KÝ CỦA VUA PRAKASADHARMA: Bia ký số III

 

Vua Prakasadharma lên ngôi năm 653, trong hoàn cảnh đất nước thanh bình an lạc. Tiếp nối đường lối trị vì của các Vua trước, vua Prakasadharma cho xây dựng một Thánh đường lớn để thờ Thần Linh Sri-Sambhubhadresvara và Ngài cho thờ phụng luôn cả tổ tiên. Ngài cũng dâng cúng đất đai, cư dân và hoa lợi quanh vùng cho vị Thần đỡ đầu Vương Quyền và triều đại của Ngài, cũng như che chở cho tổ quốc và dân tộc Champa. Ngài còn xây dựng thêm nhiều đền thờ nữa để Thánh Ðô Champa càng nhiều đền Tháp thâm nghiêm và tráng lệ hơn.

Vua Prakasadharma đã dùng vàng dát mỏng bọc Linga Thần Shiva và chạm trổ mặt Thần Shiva trên tấm kim loại bằng vàng đó phủ lên Linga mỗi khi hành lễ; và dâng “vương miện bằng vàng để đội cho Thần Bhadresvara”(2). Ngoài ra vua Prakasadharma còn xây đền thờ thần Kubera (Thần tài lộc) để vị Thần này bảo hộ cho đất nước và dân tộc Champa được giàu mạnh, “đẩy lui tất cả những bất hạnh tối tăm”(3)

Trong triều đại Vương Quyền Prakasadharma, Thần Vishnu được sùng bái tôn thờ. Những truyền thuyết về kiếp phá thân của Thần Vishnu được vua Prakasadharma ghi tạc trong văn bia của Ngài, vì “Thần Vishnu là đấng tối cao, bậc thầy của mọi Thế giới”(4); và cũng trong triều đại của Ngài, đạo sĩ Valmiki, tác giả Thiên anh hùng ca Ramajana (5) nổi tiếng, được thờ trong một ngôi Thánh đường lớn, được nhà Vua xây dựng lên tại Kinh Ðô Trà Kiệu. Ðiều này đã nói lên thời đại thanh bình và phát triển văn hóa nghệ thuật của Vương Quyền Prakasadharma.

Cũng trong văn bia số III này vua Prakasadharma có nói đến:

– Sự uy nghi của nhà vua, nhưng uy nghi đó không vượt qua được những qui tắc đức hạnh bất diệt và ví như đại dương không bao giờ vượt qua những ranh giới từng tồn tại vĩnh cữu.

– Ca tụng nhà vua thoát khỏi dục vọng và bảo vệ Thần dân như con cái.

– Ước mong mọi thần dân phải qui tụ vào người (nhà vua) như mọi tạo vật đều qui tập vào những ước vọng của đấng sáng tạo.

– Với những ước mong những điều tốt cho thần dân của mình.

Trong bia ký số III với bài minh có 55 dòng, đức vua Prakasadharma có nói đến:

– Ðức vua Bhadravarman I nổi danh đánh tan niềm kiêu hảnh ngạo mạn của những kẻ thù.

– Ca tụng và thuần phục các vị Thần Brahma, Visnu và Thần Shiva và nhiều vị Thần khác của Hindu giáo. Kẻ nào phá hoại kẻ đó sẽ ngã gục, không hề được tha thứ, hệt như chịu hậu quả muôn đời về tội giết hại người Bà La Môn (6).

 

BIA KÝ CỦA VUA VIKRANTAVARMAN II

 

Vua Vikrantavarma II khắc hai tấm bia dựng tại Mỹ Sơn: Văn bia số VI và bia số X; Tuy nhiên vì sự tàn phá của thời gian và sau này vì bom đạn B-52 trong chiến tranh Nam Bắc VN, nên bia số VI không đọc được vì bị xóa nhòa, sức mẻ từng mảnh nhỏ.

Dưới triều vua Vikrantavarma II không thấy nói đến xây dựng đền Tháp mới; nhưng có xây dựng một pho tượng bằng vàng của đấng tối Thượng Paramesvara và một bao Kôsa cho Thần Vanusvara. Riêng với nữ Thần Phú Quí Laksmi (vợ Thần Visnu) nhà vua cho dựng một Vedi bằng Vàng và bạc cho nữ Thần này nâng Laksmi sáng chiếu như đỉnh Humalaya. Vedi này được xây dựng vào năm 731 CN.

Có lẽ vì bia ký số VI của Vua Vikrantavarma II bị hủy hoại không đọc được nên phần tiểu sử của Ngài không được biết đầy đủ như các vị Vua khác.

Từ hơn một thế kỷ trôi qua năm 749-875: Thị tộc Cau (tiếng Phạn Kramukavamsa) ở miền Nam Champa chiếm ưu thế hơn thị Tộc Dừa (tiếng Phạn: Narikelavamsa) ở miền Bắc của Vương Quốc. Do đó Kinh Ðô Trà Kiệu sau này dời về Phương Nam, hoặc Bình Ðịnh (Vijaya)? hay Virapura (Thành phố Hùng Tráng)? ở vùng Panduranga?

Tuy kinh đô dời từ Trà Kiệu về Phương Nam, nhưng Thánh Ðịa Mỹ Sơn và Thánh Ðô Pô Inư Nưgar ở Kâuthara (Nha Trang), vẫn được các vị vua chăm sóc và phát triển như nhau. Trong giai đoạn này, hầu hết các bia ký tại Mỹ sơn bị phá hủy vì chiến tranh tàn phá do đó không nêu lên được một cách liên tục, những diễn biến của tình hình đất nước cũng như những đổ nát hoang tàn ở Mỹ Sơn không được đề cập rõ ràng. Chỉ có một bia ký duy nhất thuộc triều đại Vua Harivaraman I, vào đầu thế kỷ IX tại Mỹ Sơn được tìm thấy có nói rõ về: Vua Harivarman I đã xây dựng Tượng Thần Isanabhadresvara, để thờ phượng và tôn vinh chiến công hiển hách của Ngài, trong việc đánh đuổi quân Kampuchea và Trung Hoa ra khỏi giang sơn bờ cõi.

Theo tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học, Phật giáo đã vào Champa hồi thế kỷ thứ VIII, nhưng mãi đến hậu bán thế kỷ thứ IX, Phật giáo Ðại Thừa mới có uy thế trong Vương Quốc Champa và được vua Indravarman đệ II người đã sùng bái đạo Phật, xây một Phật Viện tên Laksmindra – Lôkesvara thật lộng lẫy tráng lệ tại Ðồng Dương, gần kinh đô cũ Trà Kiệu. Vua Indravarman II cũng không quên ghi tạc công ơn của hai vị vua Bhadravarman và Sambhuvarman trong bia ký của Ngài thờ tại Thánh địa Phật Giáo Ðồng Hương (7)

Lúc này kinh đô từ miền nam dời về tại Quang Nam tức kinh thành Indrapura; và Phật Viện Laksmindra-Lôkesvara cũng là một Thánh Ðô mới của Vương Quyền Phật Giáo Champa. Trong giai đoạn này, Thánh Ðịa Mỹ Sơn bị lu mờ trong niềm tin của Vương Quyền Phật Giáo, nói đúng hơn Quyền năng đấng tối thượng Thần Bhadesvara (Shiva) mờ dần trước ánh đạo vàng chiếu rọi lòng từ bi bác ái của Phật Giáo và lòng người tức vào lòng vua Indravarman II vậy. Tuy nhiên Phật Giáo tồn tại rất ngắn ngủi trong Vương Quyền Champa, từ đầu thế kỷ thứ X Phật Giáo trên đường suy vi, mất dần ảnh hưởng vì các Vua sùng bái Phật Pháp đã rủ áo vô thường, từ giã trần gian về với cõi Niết Bàn vĩnh cữu; và quyền năng tối thượng của muôn loài, là Thần Shiva tiếp tục ngự trị trên đức tin của các Quyền Vương Champa. Thánh Ðịa Mỹ Sơn lại sáng rực trong thung lũng của rừng núi thâm u nơi mà đức vua đầu tiên Champa Bhadravaman I, đã quì phục dưới chân Thần Bhadresvara là nguồn sáng trên cao vô tận, là quyền năng tối thượng sẽ che chở, bảo bọc, cưu mang Vương Quyền, tổ quốc và dân tộc Champa. Ðây là giai đoạn lịch sử thuộc triều đại Vua Indravarman III, vị vua được triều thần ca ngợi là “một nhà hiền triết lỗi lạc, thấu triệt được sáu ngành triết học” (8). Ngài phục hưng lại Ấn Giáo, những đền đài, Thánh Thất sẽ được trùng tu và xây dựng lại khang trang, mỹ lệ, thâm nghiêm và hùng tráng. Ngài tái tạo Thánh Ðịa Mỹ Sơn, với những công trình kiến trúc và điêu khắc thật sáng chói.

Vua Indravarman đệ III là vị vua được triều thần, thần dân sùng kính, thán phục và Ngài cũng là vi vua đã hết lòng tôn thờ, những vị Thần bảo vệ Vương Quyền và Vương Quốc Champa. Ngài ngự trị trên ngôi vua đến 40 năm và đây cũng là thời kỳ thịnh vượng và yên bình an lạc của Vương Quốc Chămpa.

 

HAI BIA KÝ NỔI TIẾNG CỦA VUA HARIVAMAN IV

Bia ký số XIV gồm 41 dòng bằng chữ CHÀM cổ: nói đến việc nhà vua Harivarman IV, và người em là Yuvaraja dâng cúng đền thờ nổi tiếng là Thần Srisanabhadresvara.

Từ cuối thế kỷ X đến hậu bán thế kỷ XI, đất nước Champa bị bao trùm khói lửa chiến tranh, do kẻ thù xâm lăng và thống trị tổ quốc thân yêu giàu đẹp Champa. Bao nhiêu đền đài kỳ vĩ của Thần Thánh trong Thánh địa Tâm Linh của dân tộc, đã bị tàn phá, đỗ vỡ. Cướp bóc tài sản triều đình nhà vua, đồ vật cúng tiến cho các đền đài cũng như tất cả tài sản của dân chúng như ruộng vườn đất đai, gia súc, voi ngựa trâu bò, lúa gạo đều bị quân xâm lược tham tàn tịch thu chuyển về cố quốc, kể cả nhân viên, nhạc cụ vũ công v.v… của triều đình. Trước tình cảnh tan thương của đất nước và dân tộc Champa. Viyaya Sriharivarmadeva lên ngôi Hoàng Ðế, Ngài đem hết lòng dũng cảm yêu nước thương nòi và mưu lược xuất chúng để đánh đuổi quân xăm lăng ra khỏi bờ cõi; khôi phục lại đất nước, trùng tu, xây dựng lại những đổ vỡ tan nát trong Thánh Ðịa Mỹ Sơn cũng như khắp các địa phương, tỉnh thành của đất nước.

Ngôi đền kỳ vĩ thờ Thần Srisanabhadresvara là vị thần thống trị cao cả, được nhà vua trùng tu cùng với nhiều đền thờ lớn nhỏ khác một cách khang trang mới mẻ hơn. Quyền năng của triều đình được khôi phục; các triều thần, quan lại, vũ công, nhạc công v.v… được trở lại tiếp tục phục vụ triều đình cũng như tất cả cơ quan địa phương, tỉnh thành toàn quốc, đều được tập trung lại như xưa sau những ngày ly tán do quân thù gây nên. Tổ quốc Champa trở lại thanh bình hoan lạc như triều đại Vua Prakasadharma.

Lúc này Vua Harivarman IV lên ngôi, làm lễ đăng quang trong hoàn cảnh đất nước thanh bình an lạc.

Ngài lên ngôi trị vì từ 1074-1081. Sanh ra trong một gia đình gia thế nổi tiếng của dân tộc Champa.

Cha: thuộc thị tộc Dừa, anh hùng mưu lược tức Hoàng Ðế Viyaya Sriharivarmadeva, đã chuyển lại một đất nước thanh bình cho Vua Harivarman IV.

Mẹ: Thuộc dòng CAU, một người phụ nữ kiệt xuất, sinh ra và trưởng thành trong một gia đình danh giá nổi tiếng của dân tộc Champa.

Vua Harivarman IV sau khi lên ngôi, được sự trợ lực của bào đệ là Yuvaraja, người có tài trí đặc trách chỉ huy an ninh canh chừng cả bạn lẫn thù. tiếp nối thành quả tốt đẹp huy hoàng của thân phụ, tức Hoàng Ðế Viyaya Sriharivarmadeva, Vua Harivarman IV cho trùng tu lại những ngôi đền lớn nhỏ thờ Thần trong Thánh Tích Mỹ Sơn cũng như khắp các tỉnh thành, địa phương của đất nước Champa; tiếp tục thực hiện việc cúng Thần như các Tiền Triều; đặc biệt những nơi tu hành khổ hạnh, những phòng thất, những phẩm vật để tế tự Thần Thánh đều được Ngài quan tâm đặc biệt và làm cho “Vương Quốc Champa huy hoàng rực rỡ hơn xưa(9).

Khi đã làm tròn thiên chức của một vị vua, đối với dân tộc và tổ quốc Champa yêu dấu, và cũng đã làm tròn bổn phận của một bày tôi ngoan đạo của trần gian đối với Thần Srisanabhadresvara, vị Thần linh hiển và quyền năng tối thượng trên cao; và cũng từ khi đã tận hưởng được tất cả những lạc thú của bậc vương giả nơi trần gian, Ngài nghĩ đến một cuộc sống an lạc vĩnh cữu ở một thế giới vô biên huyền dịu khác. Do đó vào niên đại 1080, Ngài tụ tập tất cả các quan lớn nhỏ trong triều đình rồi long trọng truyền ngôi cho Hoàng Tử Valk lúc ấy mới lên 9 tuổi.

Sau khi rũ áo Vương Quốc Champa, Ngài bắt đầu tỉnh tâm, khấn nguyện Thần Shiva tối cao, che chở dẫn dắt và cứu rỗi linh hồn của Ngài trên đường vĩnh biệt cõi trần, để về với thế giới vĩnh hằng.

Sau một năm dài tĩnh tâm, cầu nguyện, Ngài đã rời khỏi dương trần ra đi để lại sau lưng với bao niềm thương tiếc của hoàng tộc, của triều thần và dân tộc Champa.

Hoàng tử Vâk tức JayaIndravarman II lên ngôi mới 9 tuổi chưa hiểu biết gì về triều chính và càng không biết gì về việc cai quản cả một đất nước; do đó nhà vua trẻ tuổi này và cả triều thần đã chọn người chú của Vua JayaIndravarman II lên ngôi lấy tước hiệu là Paramabôdhisatva. Vua Paramabôdhisatva cho xây dựng lại những công trình mới mẻ cho thành phố Champa (ở Quảng Nam); dâng cúng các thần những bao Kôsa bằng vàng, bạc, những mũ Mulkuta bằng vàng và những đền đài trong Thánh địa, cũng như nhà cửa cư dân trong đô thị được khang trang đẹp đẻ hơn những thời trước. Ngài nắm quyền triều chính và cai quản đất nước được năm năm (1081-1086), nhưng vì triều đình không tuân phục, vì vẫn bị coi như tiếm quyền của cháu (Vua Jaya Intravarman II) do đó nội chiến lại xẩy ra khiến cho đô thị Champa bị hoang tàn đổ nát, những người phục tùng dưới trướng ông ta đã bị đàn áp, tan rã và Vua Paramabôdhisatva bị bất lực trước sự hỗn loạn của triều đình nên đã mai danh ẩn tích.

Trước tình cảnh đất nước bị can qua, nước không thể không vua, nên Vua Jaya Indravarman II bây giờ cũng đã trọng tuổi và được trở lại ngôi vua năm 1086 và bắt đầu kiến tạo lại đất nước và dâng cúng cho các Thần những bao Kôsa, mũ đội Mulkuta bằng vàng và trùng tu đền đài đẹp đẻ lại.

Sau này Harivarman V người cháu gọi Vua Jaya Indravarman II bằng chú lên ngôi thay cháu mình vào năm 1113, sau thời gian một năm trị vì, Vua Harivarman V đã dựng lên một đền thờ Thần Srisamabhadresvara và cúng nhiều vàng bạc, vòng kiền, bình đựng nước lễ để làm lễ tẩy uế hay khấn nguyện các Thần trong nội thất của các đền thờ Thần (10).

Vua Harivarman V nhường ngôi cho lại Jaya Indravarman III vào (1139-1145). Vì vua Indravarman III không cùng họ với vua Harivarman V nên người ta nghĩ tới hành động chiếm ngôi của vua này. Trong văn bia cho biết ngài là Vua Urôgia, khi là vua Bhadravarman, khi ngài là vua Jaya Simhavarman; như vậy ngài đã hóa thân làm vua được 03 lần rồi, sau đó Ngài lại là Vua Indravarman III; như vậy chỉ có một người mà tái sinh làm vua 04 lần(11). Ðây chính là kiếp hóa thân của những đức  Vua được phong Thần trước kia cho thấy sự tiếm quyền của Vua Indravarman III (12). Một năm sau nhà vua cho dựng một pho tượng Thần Srinabhadresvara và cúng dâng tất cả tặng phẩm quí giá vật liệu cần thiết và cả nô lệ để phục dịch việc thờ phượng Thần được chu đáo với tất cả sự lễ nghi sùng bái.

Cambodge đã nhiều lần quấy nhiễu và đánh chiếm Champa, khiến cho Vua Chămpa phải sống lưu vong (13), nhất là từ năm 1145-1149 chiến tranh thường xẩy ra giữa hai quốc gia khiến cho đất nước bị tàn phá nhiều nơi ngay cả Thánh đô Inư Nưgar vùng Kâuthara và cả kinh đô Champa.

Sau khi Jaya Harivarman I lên ngôi, ngài đã dẹp loạn đánh đuổi quân xâm lăng Kampuchea, xây dựng lại những tan nát đổ vỡ và khôi phục tái thiết lại Kinh đô Ðồ Bàn (Vijaya) vào năm 1149 và Kinh thành đến địa phương toàn quốc. Ðặc biệt những Thánh đô Thánh địa, đều tu sửa lại mới mẻ trang nghiêm và cúng nhường những vật phẩm quí giá lên các Thần. Vua Harivarman I còn là một người con hiếu thảo, nên tại Thánh Ðịa Mỹ sơn, Ngài còn dùng hai ngôi đền lớn: một để thờ Thân phụ của Ngài là đức ông Sriparamabrahmalôka; một ngôi đền khác để thờ Thân mẫu của Ngài, đồng thời cho “tạc tượng của cha mẹ thờ tại nơi Thánh địa này (14). Ngoài ra “để thực hiện lời thề nguyền với Thần Shiva để cầu mong chiến thắng” (15), Ngài đã cho sửa sang lại ngôi đền đã bị quân xâm lược Cambodge tàn phá, “Trả lại vẻ đẹp quyến rũ như xưa và dựng tượng Thần Shiva trên ngọn núi Vugvan (16) tức trên ngọn đồi khu G thuộc nhóm tháp Mỹ Sơn; đồng thời Ngài cũng dựng tượng “Thần bảo hộ tính mệnh ông đó là vị Thần Harivamesvara và cúng nhiều ruộng đất cho vị Thần này” (17).

Dưới thời vua Harivarman I, tuy Ngài thờ Thần Shiva và Thần Harivamesvara bên Ấn Giáo, nhưng trong triều đình lại có một viên Ðại Thần là Jaya Indravarman IV quê ở Sramapura “tinh thông về triết lý và Phật pháp của Phật Giáo Ðại Thừa, đức tin khác với Vua Harivarvan I. Viên quan Ðại Thần này còn biết cả khoa chiêm tinh, thuộc làu cả mọi kinh điển Phật Giáo lại là người “Văn võ song toàn” (18). Sau này ông ta trở thành nhà vua. Sự kiện này khiến cho dư luận đàm phá và nghi ngờ ông ta tiếm ngôi vua của con Harivarman I sau khi nhà vua này băng hà khoảng năm 1166-1167. Cho dù dư luận nghĩ rằng việc lên ngôi của quan đại Thần Jaya Indravaman IV là sự đoạt ngôi; nhưng ông ta cũng chứng tỏ là nhà Vua có trách nhiệm. Ông ta cũng biết sùng kính và chăm sóc đến vấn đề tâm linh của Vương Quốc, ngài dâng cúng cho Thần Srisanabhadresvara ở Mỹ Sơn một bao Kôsa bằng vàng có năm mặt? chạm ngọc trai và châu báu (19). Jaya Indravarman IV cho xây dựng một ngôi miếu nhỏ bằng gỗ trầm hương trang trí bằng bạc và chóp miếu bịt vàng. Ông cũng quan tâm chăm sóc đền Thờ Thần Srisanabhadresvara bằng bạc và bịt tất cả các nóc đền Tháp bằng vàng. Số lượng bạc đem tu tổ xây dựng cho các đền miếu với số lượng thật đáng kể, hơn 1470 kg (20). Ðối với khu vực tâm linh Thánh Ðịa Mỹ Sơn, Vua Indravarman IV là vị vua đã cúng tiến nhiều vàng bạc châu báo nhất, cho trung tâm Thần Quyền Mỹ Sơn, nơi mà các Thần Linh đỡ đầu, bao bọc, che chở cho triều đình, tổ quốc và nhân dân Champa. Mặc dù ông ta không xây dựng một đền đài mới nào, trừ một miếu nhỏ nêu trên, nhưng ngài đã có công chăm lo tô điểm cho Thánh Ðịa Mỹ Sơn thêm phần sáng rực qua việc dát vàng bạc lên chóp các đền và thành quách của đền tháp Mỹ Sơn trông rất hoành tráng, thâm nghiêm.

Trong thời gian trị vì của Jaya Intravarman IV, đất nước Champa phải trải qua cảnh can qua cùng với những dân tộc thù địch khác; khiến cho giang sơn tổ quốc Champa rơi vào tình trạng bị ngoại bang chiếm đóng (21). Mãi đến năm 1220, Jaya Paramesvaravarman II lên ngôi vua, Ngài mới đánh đuổi được quân xâm lược, khôi phục lại nền độc lập tự chủ của tổ quốc Champa. Ngài ra sức phát triển nông nghiệp, xây dựng chương trình thủy nông, khai khẩn đất hoang, ruộng vườn, phát huy ngành biển cả. Song song với việc phát triển tiềm năng kinh tế, Vua Jaya Paramesvaravarman II lo hàn gắn lại tình trạng đổ vỡ tan nát vì chiến tranh; kiện toàn lại nền hành chánh, chánh trị quốc gia từ trung ương đến địa phương. Ngài cho vun bồi dựng xây lại những cơ sở Thánh Tích như các đền tháp các Linga tại Thánh đô Kâuthara miền Nam Vương Quốc và Thánh Ðịa Mỹ Sơn phía bắc Champa được thâm nghiêm tráng lệ hơn.

Qua những số liệu bia ký tại Mỹ Sơn đã tìm ra được; các nhà khoa học khảo cổ cũng như các học giả đều cho rằng: Triều đại vua Jaya Paramesvaravarman II là vị vua cuối cùng có dựng bia ký để ghi lại lịch sử, văn hóa nghệ thuật, tâm linh … của quốc gia Champa. Sau triều đại Jaya Paranesvaravarman II, giới khoa học khảo cổ chưa tìm thấy một bia ký nào khác tại Mỹ sơn thánh địa. Có lẽ đây là giai đoạn vào giữa thế kỷ XIII, Vương Quốc Champa bắt đầu trên đà suy thoái. Hơn nữa lúc này các vị vua đã dời kinh đô về Bình Ðịnh, để xa dần ảnh hưởng sức mạnh thù địch, từ phương Bắc dần dần từng bước thực hiện chánh sách xâm lược. Do đó các vị Quốc Vương đã dồn hết sức lực để củng cố sức mạnh dân tộc ở thủ đô Vijaya, tức Thành Ðồ Bàn Bình Ðịnh để ngăn cuộc Nam tiến của Ðại Việt, và phục hưng Thánh Ðô Kâuthara tức Tháp Ðền PôInư Nưga là vị Nữ thiên Thần khai sáng đất nước và dân tộc Champa (theo truyền thuyết) và cũng là “bậc hiền mẫu của dân tộc Champa”.

Từ những sự việc diễn tiến nêu trên, Thánh Ðịa Mỹ Sơn bắt đầu từng bước của thời gian rơi vào hoang phế cho đến thế kỷ XV thì thực sự bỏ hoang, vì giai đoạn này sau khi Thành Ðồ Bàn (Vijaya) thất thủ vào năm 1471, Vương Quốc Champa dời đô về Panduranga và đây cũng là thời điểm Vương Quốc Chămpa đã thực sự suy yếu (20).

Thánh Ðịa Mỹ Sơn do Vua Bhadravarman I thành lập đầu tiên từ thế kỷ IV và thật sự bỏ hoang sau khi Thành Ðồ Bàn bị thất thủ vào năm 1471.

Hơn 10 thế kỷ được xây dựng lên, Thánh Ðịa Mỹ Sơn là Trung Tâm Thần Quyền, của các Vương Quyền Champa, đã cùng nổi trôi theo vận nước và dòng lịch sử dân tộc. Khi hưng thịnh vươn lên trong ánh nắng đào khoe sắc tím hồng dưới bầu trời Chiêm Quốc, khi tang thương biến đổi, u trầm, bởi sự tàn phá của chiến tranh do kẻ thù xâm lược gây nên! Nhưng, dù hoàn cảnh đất nước có biến động ra sao chăng nữa; Thánh Ðịa Mỹ Sơn vẫn là nơi quê hương của Thần Thánh ở chốn trần gian, để các vị Vua Champa trị vì đất nước, đều quá bước đến đây để hành hương, cúng kính, dâng lễ cho quốc thái dân an, cho vương quyền được trường cữu.

Vị Thần được các văn bia nhắc đến nhiều nhất, từ khi khởi đầu tạo dựng Thánh Ðịa Mỹ Sơn, của vua BhadravarnamI; là Thần Bhadresvara. Ðây là tên gọi của Vua – Thần kếp hợp. Tín ngưỡng vua Thần kếp hợp với phong tục thờ cúng tổ tiên là một nét độc đáo trong đời sống tinh thần dân tộc Chàm đã phản ảnh đầy đủ qua các văn bia tại Mỹ Sơn. Những dòng bia ký trên, đã cung cấp những dữ kiện phong phú, và sinh động, cho những trang sử oan hùng và góp phần cho các sử gia thiết lập các triều đại vua chúa Chămpa, qua tiến trình lịch sử của một dân tộc có ý chí can trường và lòng yêu nước thiết tha vô bờ bến ./.

 

THÁNH ÐỊA MỸ SƠN TÍNH HUYỀN THOẠI

TRONG NGHỆ THUẬT

KIẾN TRÚC VÀ ÐIÊU KHẮC

ÐỀN THÁP CHAMPA

 

Nói theo kiểu văn chương tả hình, kiến trúc và điêu khắc trong quần Tháp Cổ Thánh Ðịa Mỹ Sơn nó quấn quít với nhau, như đôi vợ chồng chung thủy; như đồng tiền có hai mặt khác nhau, nhưng dính liền vào nhau. Tuy hai mà một không thể tách rời ra được.

Nếu nghệ thuật điêu khắc là những tác phẩm tuyệt tác, trang trí cho nghệ thuật kiến trúc được rực rỡ tráng lệ, đường bệ, thêm phần khởi sắc và sinh động; Trong khi đó công trình kiến trúc lại là nền tảng cần thiết, cho những tác phẩm điêu khắc được hình thành, chạm trổ, điêu khắc qua đầu dao, mủi đục với những đường nét hoa văn phong phú, muôn hình, muôn vẻ, muôn ý nghĩa, trên thành tường gạch của tháp, trên tiền sảnh của Tháp, trên vòm cuốn của Tháp, trên những mảng sa thạch gắn trên mình Tháp; do đó công trình kiến trúc chính là kho tàng của những tác phẩm điêu khắc độc đáo của Champa vậy.

Có ai đã từng đến thăm viếng Thánh Ðịa Mỹ Sơn, sẽ mục kích tận mắt, sờ tận tay; tiền nhân Chăm: những nghệ sĩ, những chuyên gia kiến trúc và điêu khắc, đã kết hợp hài hòa hai lãnh vự c trên với nhau thành những công trình văn hóa, những tác phẩm nghệ thuật tuyệt mỹ, mang tầm vóc văn minh sáng chói, soi sáng cả trời Nam Ðông Á trong nền văn minh cổ đại của dân tộc Champa từ trong thời xa xưa ấy.

Cho đến ngày hôm nay, đã hơn 15 thế kỷ (hơn một ngàn năm trăm năm) trôi qua; cho dù vật đổi sao dời, thời gian đã xói mòn và lớp rêu phong đã phủ đầy Tháp Cổ; nhưng, trong tầm mắt nhìn của các nhà khảo cổ khoa học, của những khách viễn du có nhãn quan sâu sắc của trí giả cũng như bất ai đến Thánh Ðịa Mỹ Sơn trong tinh thần hoài cổ, đều nhận thấy hai lãnh vực kiến trúc và điêu khắc trong quần Tháp Cổ, vẫn còn gắn bó, hòa quyện với nhau, để lưu dấu cho hậu thế những tác phẩm nghệ thuật độc đáo và trát tuyệt của hơn ngàn năm trước.

 

NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC ÐỀN THÁP MỸ SƠN

 

Phong cách kiến trúc đền tháp tại Thánh Ðịa Mỹ Sơn nói riêng, nói chung trên tất cả đền tháp Chămpa đều ảnh hưởng nghệ thuật Ấn Ðộ với một tổng thể kiến trúc gồm một ngôi đền chính (Chăm gọi là Kalan) và chung quanh còn có những đền phụ nhỏ hơn. Ngôi đền chính tượng trưng cho ngọn núi Meru là núi Thiêng, là trung tâm của vũ trụ, nơi đó có các Thần Linh ngự trị. Bên đất nước Ấn Ðộ, tại những Quần thể kiến trúc đền đài Hindu giáo, đều có hồ nước hoặc thiên nhiên hoặc nhân tạo để tuợng trưng cho các đại dương. Ðối với Champa tuy có ảnh hưởng nghệ thuật Ấn Ðộ nhưng không hoàn toàn giống Ấn Ðộ, như chóp đỉnh cả đền Tháp Ấn Ðộ giống như “búp sen”, nhưng đền Tháp Chăm thì nhọn lên. Tháp Ấn Ðộ xây bằng đá; đền Tháp Chăm hoàn toàn bằng gạch, và không có những hồ nước tượng trưng cho đại dương.

Như trên đã trình bày, ngôi đền chính tượng trưng cho ngọn núi Thiêng Mêru, nên hình thể bên ngoài của đền Tháp bốn mặt đều nhau và cao vút lên. Càng lên cao càng nhỏ dần và nhọn ở đỉnh. Trong khi bên trong đền Tháp nó khác với Chùa Phật Giáo hay Nhà Thờ Công Giáo. Vì Chùa nhà thờ, là nơi con chiên, Phật tử, ai cũng đến được để nghe thuyết pháp giảng đạo, đọc kinh hay niệm Phật. Nhưng đối với đền Tháp (Kalan) Chăm, là nơi để các vị tu sĩ, chức sắc Bà La Môn đã được Thụ Pháp hay hàng vua chúa mới được vào bên trong để tế lễ, cầu Thần Linh. Do đó bên trong nội thất đền Tháp Chăm không rộng; chỉ đủ để thờ bộ Linga ngay ở giữa, tượng trưng cho Thần Shiva. Còn hai bên bộ Linga là hai lối đi hẹp, để cho những người hành lễ, những người hành hương xếp hàng một từ bên ngoài vào; đi vòng quanh bộ Linga đọc lời cầu nguyện rồi đi ra. Còn những ngôi tháp nhỏ trong khuôn viên chỉ để thờ những vị Thần phụ, khách hành hương không đi vào bên trong được chỉ đứng tế lễ bên ngoài.

Trong kiến trúc xây dựng nhà cửa dân cư CHĂM, nhà luôn luôn xoay mặt (cửa ra vào) về hướng tây (mặt trời lặn); vì hướng đông nơi vầng thái dương chiếu rọi đem lại nguồn sáng cho vũ trụ là hướng của Thần Linh; nơi đó có Thần Linh đầy quyền năng cư ngụ. Vì vậy các đền Tháp đều quay mặt về hướng Ðông. Tuy nhiên trong quần Tháp Thánh Ðịa Mỹ Sơn có vài biệt lệ: Có vài đền tháp mặt quay ra cả hai hướng: Ðông và Tây. Sự kiện này được giải thích: đây là biểu tượng của các vị vua còn tại triều trị vì, đối với những vị vua đã băng hà đã được phong Thần. Cửa Ðông là hướng Thần Linh như Shiva, Visru, Brhma … Cửa tây là hướng của các vị vua băng hà được phong Thần, để tỏ lòng biết ơn các bậc tiền triều.

Nghệ thuật kiến trúc CHĂM là sự pha trộn giữa tâm linh nguyên thủy Ấn Ðộ Giáo và những yếu tố bản địa Champa, tạo nên một nghệ thuật kiến trúc độc đáo riêng biệt của Champa, thể hiện bản sắc dân tộc mình trong bối cảnh nghệ thuật kiến trúc vùng Ðông Nam Á đương thời và xa dần nền nghệ thuật kỳ vĩ của Ấn Ðộ.

Như trên đã trình bày, đền Tháp Ấn Ðộ xây bằng đá (thời Trung đại); như quần thể đền đài ở Mahabalipuram là những Thánh Tích nổi tiếng bậc nhất của Ấn Ðộ, hùng vĩ và xây hoàn toàn bằng đá vào thời kỳ 630-715. Các nhà khoa học nghệ thuật đã ví quần thể đền Mahabalipuram như là đỉnh Everest của nghệ thuật thời Trung đại Ấn Ðộ.

Ngược lại các đền Tháp Champa đều xây bằng gạch với kỹ thuật đẹp đẽ và tinh xảo. Cái đặc biệt nhất của Champa không phải là đỉnh nghệ thuật Everest của Ấn Ðộ, vì đỉnh Everest chỉ là hùng vĩ đồ sộ, nhưng kỹ thuật xây gạch không có mạch hồ ở giữa hai viên gạch để kết dính vào nhau đã, đang và sẽ làm cho giới khoa học nghiên cứu về kiến trúc xây cất phải bóp trán, nhức đầu như hư hư thật mà chưa tìm ra ẩn số chính xác.

Tuy không có mạch hồ ở giữa, những đền Tháp gạch CHĂM đã đứng vững với thời gian hơn cả ngàn năm trước, thách đố với mưa sa nắng gội, phong ba bão táp. Những sức ma xát của thiên nhiên ấy có thể làm cho đền Tháp gạch nung mòn dần; chứ không làm cho những viên gạch không mạch hồ phải bóc rời nhau, đưa đến sụp đổ đền Tháp. Sự kiện hi hữu này đã khiến cho người Trung Hoa từ thế kỷ thứ V và thứ VI đã buông lời ngợi ca: “người CHĂM là bậc thầy trong công trình kiến trúc bằng gạch”. Có phải cái huyền thoại của nghệ thuật kiến trúc xây gạch của dân tộc CHĂM là ở điểm này?! Viết đến đây, tôi chợt nghĩ đến” Kim Tự tháp” của Ai Cập. Ở thời điểm đó, máy móc ở đâu mà đưa những tản đá khổng lồ xếp thành lớp lang với hình thể tuyệt mỹ tráng lệ như vậy? Ôi tiền nhân của Ai Cập và tiền nhân Champa, các tiền bối thật là vĩ đại của dân tộc quí ngài và còn của cả nhân loại nữa. Quí tiền bối là những sinh thể tài năng trong vũ trụ đáng được sáng danh.

Gạch CHĂM được cấu tạo qua một quá trình kỹ lưỡng: đất làm gạch dùng bằng đất sét đã làm sạch, mịn, được lấy từ những thửa ruộng quanh vùng Thánh địa để đúc gạch; những thửa ruộng đó rộng và sâu; ngày nay vẫn còn có dấu tích mà cư dân quanh vùng thường gọi là ruộng ô vuông. Ðá sa thạch lấy cách ruộng ô vuông (nơi lấy đất làm gạch) chỉ vài cây số về hướng tây; và những mô đá nơi đây còn dấu đục đẽo để lấy đá cung cấp cho công trình kiến trúc Thánh Ðịa Mỹ Sơn!

Như phần trên đã nêu về công trình kiến trúc đền tháp CHĂM, bằng gạch và không có mạch hồ kết đính ở giữa hai viên gạch. Ðây là tài năng đặc biệt của tài nhân Chăm, mà xưa nay các nhà khoa khảo cổ học, các nhà kiến trúc đông tây kim cổ, đều phải bàn bạc thảo luận, phân tích, để rồi từ đó có nhiều giả thuyết được các nhà nghiên cứu đưa ra nhận định:

– Người CHĂM xây đền Tháp bằng gạch mộc (gạch còn ướt) rồi đem nung chín toàn bộ các Tháp bằng lò sưỡi khổng lồ. Lập luận này khiến nhà khoa học Pháp Henry Parmentier đã cho là sự nhận định đó quá ngây ngô; Vì gạch mộc không chịu đựng nổi sức nặng của ngôi Tháp cao hơn 20m – 24m; hơn nữa làm sao nung chín đều những viên gạch ở giữa bức tường dầy từ 1m – 1m50.

– Dùng nhựa thực vật làm chất kết dính giữa hai viên gạch dính liền với nhau. Có người cho rằng: dùng cây xương rồng pha với mật đường, hay dùng nhựa cây Thông. Gần đây nhất, và nhiều giới nghiên cứu cho rằng: dùng “Dầu rái” có tên khoa học Dipterocarpus Alatus Roxb có độ dính rất chắc chắn và lâu bền. Dầu rái này là nhựa loại cây tìm thấy nhiều ở miền Trung Việt Nam, quê hương của đất nước Champa ngày xưa; dân cư thường dùng dầu rái này để trét ghe, làm bóng lớp ngoài và thêm chắc bền đồ dùng bằng gỗ, tre nứa như thúng mũng giạ, nia v.v… Dầu rái còn được tiền nhân Champa dùng phết lên toàn bộ lớp ngoài đền Tháp một lớp thật mỏng để giữ cho mặt ngoài đền Tháp một lớp thật mỏng để giữ cho mặt ngoài đền Tháp khỏi bị soi mòn bởi mưa soi nắng đốt.

– Sau nhiều năm nghiên cứu thực địa, các nhà nghiên cứu cho rằng: tiền nhân CHĂM còn dùng chất vữa của gạch để làm chất kết dính 02 viên gạch với nhau. Chỉ cần mài 02 viên gạch trong nước, bột gạch chảy ra thành chất kéo dính và hút chặt hai viên gạch lại với nhau. Giả thuyết không vững, bởi vì khi để 02 viên gạch ngoài nắng khô ráo, hai viên gạch lại bong rời ra ngay.

– Nghiên cứu khác của các chuyên gia Ba Lan đã dùng phương pháp khoa học hiện đại để nghiên cứu tính chất kết dính của 02 viên gạch bằng cách dùng nhiễu xạ Rơngen, nhiệt vi phôm, quan trắc phổ hồng ngoại tuyến để nghiên cứu tính chất vật lý và kỹ thuật của gạch và chất kết dính ở đền Tháp dân tộc CHĂM. Kết quả cho thấy người CHĂM dùng đất sét “Hydrômica” và nung ở nhiệt độ trên dưới 1000°C. Các chuyên gia khoa học ở Balan còn phân tích chất kết dính từ hai viên gạch để phân tích thấy có chứa chất Diasper có mức độ thu nhiệt 540°C đến 580°C. Kết quả phân tích này, các chuyên gia thấy chất gạch và chất kết dính chịu đựng những dòng nhiệt khác nhau: Cao hơn gạch thường (gạch không chứa Diasper) và thấp hơn chất kết dính. Từ những kết quả phân tích khoa học nêu trên, các chuyên gia khoa học Balan kết luận: Hai viên gạch nung chín kết dính với nhau bằng một lớp mỏng dung dịch đất sét (vữa đất sét) rồi toàn bộ Tháp nung lại lần nữa (sau khi xây) làm cho sự kết dính hai viên gạch được chắc và lâu bền hơn, không trở ngược lại do sự tác động của khí hậu (gió cuốn mưa sa, ẩm, nóng quá).

Dù sao trên đây chỉ là nghiên cứu, phân tích thực địa theo phương pháp khoa học hiện đại, với những kết quả còn khiêm nhường, chưa tìm thấy ẩn số chính xác. Cho đến nay chưa thấy công bố nào chính thức, và cũng chưa có cơ quan nghiên cứu nào cho áp dụng thực sự, bằng cách thử xây dựng một đền Tháp CHĂM bằng gạch với những chất kết dính đã khảo sát nêu trên; để xem với sự tác dụng của thời gian, khí hậu mưa nắng gió sương chừng 10 năm xem kết quả ra sao, chứ đừng nói cả ngàn năm.

Trở lại chi tiết về phần kiến trúc đền Tháp, ta thấy bên trong chỉ có một cửa chính ra vào nên thiếu ánh sáng. Do đó trên mặt 03 vách tường còn lại (01 vách cho cửa lớn chính) đều có một ô trống nhỏ hình tam giác để đèn mỗi khi có hành lễ, cầu nguyện v.v…

Trên mỗi cửa chính của đền Tháp, các nhà kiến trúc CHĂM đều có trang trí vòm cuốn với nhiêu đường nét hoa văn trông đẹp đẽ và linh hoạt. Ngoài một cửa chính ra vào, đền Tháp Chăm còn có cửa giả; và trên các cửa giả đều có trang trí vòm cuốn như cửa chính. Dưới mỗi vòm cuốn cửa giả thường có hình người đứng chấp tay cầu nguyện các Thiên Thần.

Phía trên của cửa chính ra vào, thường có phần nhô ra gọi là Tiền Sảnh. Trên cửa chính có một bức chạm hình lá đề, và trong lá đề đó có hình tượng của vị Thần Ấn Ðộ Giáo thờ trong đền tháp đó. Bên ngoài tường đền tháp có trang trí hình chim thần Garuda, bò thần NanDin, tiên nữ Apsara v.v…

Trên chóp tháp có đặt một khối đá nhọn ngay ở giữa đỉnh. Dưới thời vua Jaya Indravarman đệ IV khoảng giữa thế kỷ XII, những ngôi đền lớn, trên đỉnh đền tháp đó đều có bọc vàng lá. Màu sắc đỏ thắm của tường gạch, hòa quyện với màu vàng đẹp óng ả của vàng lá, cùng với những hình ảnh trang trí đẹp đẽ trên tường Tháp tạo nên một nghệ thuật kiến trúc đền Tháp CHĂM trông thật xinh đẹp, lộng lẫy và tráng lệ, vươn mình lên cao từ trong thung lũng núi rừng và còn lên cao trong vị trí nghệ thuật kiến trúc Ðông Nam Á.

Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ IX, nền kiến trúc Champa thay đổi rõ ràng, khi mới liên hệ kinh tế thương mãi giữa Champa và Ấn Ðộ chấm dứt, Champa đã có một hướng đi mới cho nền nghệ thuật dân tộc. Nền văn hóa bản địa của Sa Huỳnh đã gợi ý cho những nhà nghệ thuật CHĂM, sáng tạo một nền nghệ thuật mang hình ảnh và màu sắc bản địa dân tộc Champa, điển hình qua vài nét chính sau đây:

– Trụ áp tường, trước đây lúc còn ảnh hưởng nghệ thuật Ấn Ðộ được trang trí rất thưa thớt. Bây giờ, từ thế kỷ thứ X nghệ thuật kiến trúc Champa, hướng về bản địa dân tộc, với những trụ áp tường được trang trí dày đặc, làm cho đền tháp Champa trông có vẻ uy nghi và đường bệ hơn.

– Nghệ thuật trang trí các vòm cuốn mang những nét đẹp sắc sảo, tráng lệ hơn tại nhóm Tháp Mỹ Sơn F-1.

– Nghệ thuật thẩm mỹ đơn giản của khu Tháp Mỹ sơn E-1, phối hợp với nghệ thuật thẩm mỹ trang trí đậm đặc, theo thị hiếu mới của dân tộc, tạo ra một nền nghệ thuật thẩm mỹ Champa vô cùng tuyệt tác như nhóm tháp Hòa Lai ở Phước Nhơn Phan Rang Pô Dam ở Tuy Phong Bình Thuận và tập trung nhiều nhất ở Thánh Ðịa Mỹ Sơn. Những kiệt tác kiến trúc mới này đã bị bom B-52 phá hủy năm 1969 trong chiến tranh Nam, Bắc Việt Nam, chỉ còn vết tích lưu lại, được các nhà khoa học nghiên cứu khám phá, phân tích và xác định.

Nói về nghệ thuật kiến trúc, một nhà thơ Hoa Kỳ là Henry Wadsworth Lonfeblono (1807-1882) đã nói: “nghệ thuật thì trường tồn còn thời gian chỉ là sự thoáng qua”. Có lẽ vậy mà các nhà kiến trúc đã dùng nghệ thuật kiến trúc, để vượt lên trên cả thời gian. Thời gian có phôi pha, lòng người có “thay đổi, nhưng chân giá trị nghệ thuật kiến trúc một thời, vẫn là di sản, quí hóa của nhân loại.

Ai đã từng ngắm nhìn tác phẩm thanh tú và kỳ vĩ, của ngôi đền Tajmahal do một người chồng xây dựng nên; vì quá khổ đau bởi yêu quí một người vợ tuyệt vời đáng yêu da diết, đã trở nên người thiên cổ, mà không tấm tắc khen ngợi, nghệ thuật đặc sắc của nét kiến trúc vẫn còn đó, mà thời gian vẫn phản phất trôi qua.

Ai đã từng chiêm ngưỡng “Kim Tự Tháp” Gaza, mà lại không cảm thấy mình quá nhỏ bé đối với những trí tuệ của thời cổ đại.

Chụp tại khu đền Tháp B-5 Thánh Ðịa Mỹ Sơn

ngày 28 tháng 7 năm 2010

khu Tháp này xây dựng hồi thế kỷ X

 

Cũng như ai đã từng lê gót đến viếng thăm Thánh Ðịa Mỹ Sơn, “Quê hương Thần Thánh” dưới trần gian, trong những ngày trời quang mây tạnh; để tránh cảnh thâm u của núi rừng buông phủ che khuất về thâm nghiêm kỳ vĩ của nền kiến trúc nơi đây. Ai đã từng đứng dưới chân đồi ngước nhìn “cái cao ngất và hùng vĩ” của Tháp Nhạn Phú Yên, Tháp Cánh Tiên bình Ðịnh như đang vươn mình lên thì thầm với chòm mây bạc trên không trung. Và ai đã một lần đứng dưới chân cầu Xóm Bóng Nha Trang, nhìn lên quần thể Tòa Tháp Pô Inư Nưgar (Tháp Bà Nha Trang) để nhìn thấy cái nguy nga đồ sộ và lộng lẫy đang vươn lên trên nền trời xanh biếc v.v… mà không nhận thấy cái bộ óc tinh tế, cái phong cách tài hoa và tâm hồn phóng đạt của các nhà nghệ thuật kiến trúc Champa? Nhưng, điều đáng nói ở đây, là cái Huyền Thoại trong nghệ thuật kiến trúc, xây gạch không có hồ vẫn ở giữa; để kết dính hai viên gạch, thế mà 1,300 năm trôi qua, Tòa Tháp đồ sộ ấy, vẫn còn đứng sừng sững, như thách đố với không gian và thời gian; và như âm thầm tiếc nuối một thời vàng son của triều đại đã đi qua!

 

NGHỆ THUẬT ÐIÊU KHẮC

TRONG ÐỀN THÁP MỸ SƠN

Như trên đã nói: Kiến trúc và điêu khắc đền Tháp CHĂM nói chung, nói riêng nơi quần Tháp trong Thánh Ðịa Mỹ Sơn đều gắn bó và hòa quyện với nhau.

Nếu nghệ thuật kiến trúc đều phát xuất từ quan điểm Ấn Giáo, nên ngôi đền Tháp tượng trưng cho ngọn núi huyền thoại Meru (núi Tu Di) nơi có Thần Linh ngự trị; thì nghệ thuật Ðiêu khắc và nội dung của những tác phẩm điêu khắc đền Tháp đều minh họa những hình ảnh liên quan đến Tôn giáo Hindu như: các Thần Brahma, Wishnu, Shiva, nữ thần Apsara, nữ thần Sakti, nữ thần Parvati, Unua, Lakshmi, Linga, Yôni, bò thần NanDin, chim Thần Garuda v.v… Ngoài ra nghệ thuật điêu khắc còn là những trước tác trên đá, gạch, sathạch v.v… ghi lại những sắc nét văn hóa, Tâm Linh, tiến hình lịch sử và các Vương Quyền của đất nước và dân tộc Champa.

Phong cách trang trí qua nghệ thuật điêu khắc, được thể hiện trên: Tiền sãnh, trên vòm cuốn; trên những mảng sa thạch gắn trên tường thân đền Tháp, trên những tấm bia ký bằng đá chính là những kho tàng để cho những nghệ sĩ, chuyên  gia điêu khắc, nắn nót đầu dao mũi đục, để tạo nên những tác phẩm điêu khắc giá trị đặc sắc.

Về phương diện kỹ thuật điêu khắc, các chuyên gia và nghệ sĩ Ấn Ðộ đã đạt đến một trình độ rất cao từ thời cổ đại. điêu khắc Ấn Ðộ được xử dụng nhiều hơn để trang trí cho những công trình kiến trúc vĩ đại của xứ sở này; cho nên những công trình kiến trúc của Ấn Ðộ là nơi tập trung những tác phẩm điêu khắc phong phú và vĩ đại nhất của nền văn minh điêu khắc Ấn Ðộ mang nặng, gần như hoàn toàn bản sắc của đất nước và dân tộc họ.

Theo lối mòn nghệ thuật điêu khắc Ấn Ðộ, nghệ sĩ và chuyên gia điêu khắc Champa, đã đem sở trường tinh xảo khéo léo qua đầu dao mũi đục để viết lên những tác phẩm điêu khắc bằng ngôn ngữ tạo hình trên tường gạch thân Tháp, trên các bảng sa thạch, về hình ảnh các vị Thần, hình con người, hình muôn thú, hoa quả, nhạc cụ, y phục v.v… với nội dung phong phú về hình ảnh nghệ thuật âm nhạc, ca múa, những hình ảnh chiến đấu, sinh hoạt ca múa cung đình, về triết lý nhân sinh, những hình ảnh về tâm linh v.v… làm cho tác phẩm kiến trúc CHĂM, ngoài sự tráng lệ về hình thức, còn thêm phần xinh đẹp và linh hoạt bởi sự trang trí qua kỹ thuật điêu khắc.

Các chuyên gia và nghệ sĩ CHĂM đã chuyển dần sang ý thức bản địa dân tộc, để kiến tạo nghệ thuật điêu khắc tiêu biểu cho bản sắc dân tộc Champa về đường nét cũng như hình ảnh.

Ðể thấy rõ nghệ thuật điêu khắc Champa, chúng ta nhìn vào Tiền Sãnh, vòm cuốn và mình đền tháp, trong khu Thánh Ðịa Mỹ Sơn, sẽ thấy những nét đặc trưng của điêu khắc CHĂM phong phú và độc đáo mang tính cội nguồn ra sao.

 

TIỀN SÃNH:

Là phần nhô ra trước cửa chính vào đền Tháp. Trên Tiền Sãnh có một bức CHẠM bằng sa thạch hình lá đề. Trong bức CHẠM hình lá đề này được chạm khắc hình tượng của vị THẦN LINH được thờ trong đền Tháp đó. Nét CHẠM TRỔ tinh vi, rõ nét và nổi bật lên.

 

VÒM CUỐN:

Là phần trang trí phía trên khung cửa chính và cửa phụ, nằm phía trong Tiền Sãnh. từ thế kỷ X trở về trước, Vòm Cuốn CHĂM, được các nhà Ðiêu Khắc và nghệ sĩ CHĂM, chạm khắc những đường nét hoa văn trông đẹp đẽ và linh hoạt. Phía dưới Vòm Cuốn; thường có chạm khắc hình người, đứng chấp tay cung kính, để khấn nguyện, cầu xin các vị Thần Linh thờ bên trong những điều gì ta muốn.

 

MÌNH THÁP:

Là phần Thân Tháp, có hình trang trí chạm khắc bằng sa thạch những hình ảnh như Thiên Thần Apsara (tiên nữ múa hát trên cõi trời) chim Thần Garuda, bò thần NanDin, voi, ngựa, hoa lá v.v… Tất cả đều do bàn tay của các chuyên gia CHĂM, với một tâm hồn khoáng đạt và bút pháp tinh xảo, khéo léo về tài năng chạm trổ, đã kiến tạo nên những tác phẩm điêu khắc tuyệt tát trên gạch, trên sa thạch, mà nghệ thuật điêu khắc các nước Ðông Nam A cùng thời, ít khi xuất hiện những kiểu cách và phương thức trên nền gạch như Champa. Nó tuyệt tác không chỉ là kiểu thức đường nét hoa văn xinh đẹp, tinh tế và sinh động, mà tuyệt tác hơn hết là ở nội dung phong phú, bao gồm những nét đặc trưng của dân tộc, trong một giai đoạn của dòng lịch sử, về Thần Quyền, về triết lý nhân sinh, về văn hóa nghệ thuật v.v… tất cả những biểu tượng đó của dân tộc, đã được các nhà điêu khắc CHĂM phơi bày trên thành tường gạch của đền Tháp thiêng (nhà ở các vị thần nơi trần thế) đã tắm nắng gội sương gần hai ngàn năm (IV – IXX) qua, nơi thung lũng u-tịch, giữa núi rùng bao quanh, mà tưởng chừng đã mai một rữa nát, với sự tàn tạ của thời gian, với sự tàn phá điên cuồng của con người trong cảnh mưa bom đạn gió.

Nói đến điêu khắc trong đền Tháp ở Thánh Ðịa Mỹ Sơn là nói đến những Ðài Thờ thuộc Mỹ Sơn E-1 (E-1: do nhà khảo cổ người Pháp Henry Parmentier chia khu các đền Tháp trong Thánh Ðịa Mỹ Sơn). Ðó là một đài thờ bằng Sa Thạch mềm, hơi vàng, có kích thước: 3,53m x 2,70m x 0,05m. Ðài thờ còn nguyên vẹn và được khai quật vào năm 1903 trong lòng ngôi đền Mỹ Sơn thuộc khu E-1, bởi các nhà nghiên cứu khảo cổ thuộc trường Viễn đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội. Ðài thờ này vào năm 1918 được đem từ Thánh Ðịa Mỹ Sơn về trưng bày trong Viện Bảo Tàng Ðiêu Khắc CHĂM tại Ðà Nẳng.

Ngày 25/07/2010, tác giả bài viết này từ Hoa Kỳ về Việt Nam, trong một chuyến du hành, tìm về nguồn cội Champa ở tuổi “thất thập cổ lai hy”; đến viếng thăm quan sát thực địa Thánh Ðịa Mỹ Sơn, các đền tháp CHĂM dọc miền Trung VN, thăm động Phong Nha, được người xưa viết lại trên một Tảng Ðá bằng phẳng, màu bạc; hiện đang được lưu giữ cẩn trọng bởi chánh phủ Việt Nam và thăm viếng “Viện Bảo tàng Ðà Nẳng” để được mục kích tận mắt, sờ tận tay những tác phẩm Ðiêu Khắc tuyệt mỹ của dân tộc CHĂM do người xưa để lại, trong khối tác phẩm Ðiêu Khắc này có cả Ðài Thờ Mỹ Sơn E-1 nói trên được đặt trên một bệ trưng bày trong Viện Bảo Tàng.

 

 

Tác phẩm điêu khắc thế kỷ VII.

Sa Thạch, cao 1,14 m Mỹ Sơn, Quãng Nam.

July 28, 2010 tại Viện Bảo Tàng Champa Ðà Nẳng.

 

Ðài thờ Mỹ Sơn E-1 này có 02 vòm cuốn, có hai trụ chống ở mặt trước. Qua cách bố cục trang trí của 02 vòm cuốn này, ta thấy phong cách độc đáo, nghệ thuật điêu khắc CHĂM được thể hiện rõ nét:

– Ở 02 đầu Vòm Cuốn là hai con Makara (thú vật được trang trí qua ngôn ngữ tạo hình (Ðiêu Khắc) trong kiến trúc Tôn Giáo Ấn Ðộ), nhả ra hai đầu con Dê (Trong nền văn hóa Sa Huỳnh, khi đào bới những mộ CHUM, các nhà khảo cổ tìm thấy những khoen tai được kiến tạo dưới hình thù con Dê) đã nói lên nội dung bút pháp linh hoạt mang tính bản địa CHĂM (Con Dê là thú vật nuôi trong nhà để cúng tế Thần Linh CHĂM). Phía trong cùng của Vòm Cuốn, là 02 đầu chim có mào và cánh đối diện nhau. Ở đầu phía trong lẫn ngoài của vòm Cuốn, có trang trí 03 bông hoa bốn cánh, với nhụy hoa to, trang trí thưa ra chứ không sát vào nhau; nhìn vào hai Vòm Cuốn phía trong Tiền Sãnh thấy nhẹ nhàng và thoáng mát. Hình ảnh trang trí bông hoa bốn cánh này giống như cách trang trí trên mặt “mâm” bằng gỗ, có chân cao, dùng để đặt để các thức ăn khi cúng quẩy Thần Linh hay Tổ tiên đã qua đời. Có nghệ sĩ trang trí mặt “mâm” với hình ngôi sao 09 cách, có nhụy tròn ở giữa, gợi cho ta thấy có sự thấp thoáng của văn hóa Ðồng Sơn? – Có lẽ do sự giao tiếp ít nhiều với văn hóa Ðồng Sơn, cũng giống như kiến trúc Ấn Ðộ vẫn có ảnh hưởng thoáng lướt nhẹ nhàng của Ba Tư, La Mã. Nhưng, bông hoa 04 cánh với nhụy to ở giữa, giống như trên đã nói, rõ ràng là Văn Hóa Sa Huỳnh, là bản địa dân tộc Champa vậy. Ðiều này đã cho thấy các chuyên gia, nghệ sĩ Chămpa đã thoát ly dần với đường nét kỳ vỹ của nghệ thuật Ấn Ðộ; trở về với dân tộc thân yêu của mình để kiến tạo một kiểu cách trang trí điêu khắc riêng biệt, mang đầy bản sắc cội nguồn của dân tộc Champa.

Ðài thờ Mỹ Sơn E-1 nổi tiếng bằng ngôn từ tạo hình, đã minh họa những đạo sĩ Ấn Ðộ, vốn dĩ có một đời sống bình dị thoát tục, hòa mình vào thiên nhiên, để tu luyện suy tư nơi rừng sâu núi thẩm.

Ở một Ðài thờ khác cũng thuộc khu Tháp Mỹ Sơn E-1, là một tác phẩm Ðiêu Khắc diễn tả một cảnh ca múa sinh động (thế kỷ thứ VII, p.28, NV kự) gồm 03 người. Người giữa trong tư thế uốn mình, hai chân soải ra gần sát mặt đất; hai tay dang rộng, dâng một dãi khăn với nét mặt say sưa, cung kính, ngẫn nhìn lên, nhoẽn miệng cười. Hai bên hông có hai vũ công khác, hai tay nâng lên giải khăn để biểu diễn điệu múa. Cả 03 vũ công với vẻ mặt hân hoan trong vũ khúc dâng lên Thần Linh.

Ở một Ðài Thờ khác thuộc thế kỷ VII của khu Tháp Mỹ Sơn E-1 là một khối hình với đường nét tinh tế của nghệ thuật Ðiêu Khắc, đã viết lên những ngôn ngữ tạo hình với cách trang trí nhiều hoa văn 04 cánh, 01 nhụy to ở giữa Chạm trổ những đường nét hoa văn tinh tế lún sâu vào nền Sa Thạch. Trong ô ở giữa dưới Vòm Cuốn của Ðài Thờ, là một nghệ nhân đang chơi Thụ cầm, ngồi xếp bằng, nhắm mắt lắng động tâm tư và say sưa trong tiếng sáo.

Một người khác đang đứng trong khung tường bên phải, chân phải hơi cong lên, chân trái đứng thẳng. qua tác phẩm Ðiêu khắc này, ta thấy từ thế ngồi, đứng, cho đến cách búi tóc, khuôn mặt cũng như dáng vẻ biểu hiện được bản sắc nghệ thuật của Champa.

Ở một cảnh chạm trổ trền đài thờ Mỹ Sơn E-1 khác, một đạo sĩ hòa mình vào thiên nhiên, đang ngồi đọc kinh sách trong tư thế an nhàn tự tại, dưới gốc cây nơi chốn thâm sơn cùng cốc, có chim rừng bao quanh. Trong u tịch của núi rừng, có lẽ người đạo sĩ này đang, lắng hồn chiêm nghiệm những dòng tư tưởng uyên bác của kinh vệ Ðà là tên của 04 bộ kinh của Ấn Ðộ; là kim chỉ nam để hình thành nền văn minh Vệ Ðà có từ 6000 năm trước Thiên Chúa; và ngay trong thời đại này, người Ấn Ðộ đã tiến đến một trình độ văn minh khá cao rồi.

Một tác phẩm điêu khắc từ thế kỷ IX bằng Sa Thạch ở Mỹ Sơn đã diễn tả thần Shiva múa. Ðây là một bức tranh sinh động, mô tả khung cảnh sinh hoạt âm nhạc. Bên phải là một nghệ nhân ngồi xếp bằng thổi sáo với vẻ mặt cung kính dâng lên Thần Linh những âm thanh tuyệt vời của tiếng sao. Một nghệ nhân khác, một mình điều khiển hai cái trống, trong tư thế uyển chuyển thân mình, với vẻ mặt vui tươi hòa nhịp vào tiếng sáo rộn ràng khi khoan khi nhặt và sự diễn xuất của vũ nữ trong vũ khúc Shiva.

Phía bên phải là một công Chúa hay Hoàng hậu, với nụ cười cởi mở đôn hậu. Ngồi vui tươi thưởng thức ca múa với hai người đứng hầu hai bên. Có lẽ đây là sinh hoạt văn nghệ cung đình. Nằm phía dưới cùng ngay khoản giữa, là con bò NamDin nằm trong tư thế ngoan ngoãn, vô tư lự, mặc cho sự huyên náo của buổi sinh hoạt ca múa của con người.

Còn biết bao tác phẩm điêu khắc trên gạch, trên Sa Thạch trong khu Thánh Ðịa Mỹ Sơn, mô tả cảnh sinh hoạt của các đạo sĩ, nhập thế trong các hoạt động giúp đời, truyền đạo, chữa bệnh; cũng như mô tả cảnh xuất thế tu hành, của các đạo sĩ ẩn náo trong rừng sâu, để trầm tư mặc tưởng, kiến tạo một sức mạnh của nội tâm; mà chỉ sống đơn độc trong u tịch của núi rừng, trong vắng lặng của thinh không, mới tìm thấy được.

Nhờ sức mạnh nội tâm, các nhà hiền triết, các đạo sĩ thấu thị, đã tìm ra những nguyên tắc căn bản của Ấn Ðộ giáo, kiến tạo các giai cấp xã hội, qui định phương thức thờ phụng và nêu lên những con đường giải thoát cho con người.

Cũng trong khu Mỹ Sơn E-1, hiện trưng bày tại bảo tàng viện Ðà Nẳng, một tác phẩm điêu khắc độc đáo khác tìm thấy trên các mi cửa xinh đẹp của ngôi đền Mỹ Sơn E-1. Tác phẩm điêu khắc này với nội dung hết sức thần thoại, nên các nghệ sĩ CHĂM phải chạm trổ rất tinh vi với nhiều chi tiết, đã nói lên một kỹ thuật điêu khắc trên gạch và Sa Thạch rất cao, đòi hỏi sự khéo tay, nhẫn nại. Với một tâm hồn phong phú nét nghệ thuật, một trình độ thẩm mỹ vừa đa dạng, vừa có chiều sâu, vừa sinh động mới kiến tạo những tác phẩm điêu khắc tuyệt mỹ, hoàn hảo và có hồn như vậy. Ví dụ những tác phẩm điêu khắc mô tả các vị Thần:

– Thần Brahma ngồi trong tư thế xếp bằng trên đài sen, tay phải cầm một sâu chuỗi, tay trái cầm một chiếc bình. Vị Thần trông vừa uy linh vừa đạo hạnh.

– Thần Visknu: nằm dài trên thân Rắn Sesa có bảy đầu, tượng trưng cho sự bất diệt. Tay phải Thần đỡ đầu, tay trái Thần cầm cuốn sen; đôi mắt lim dim, nụ cười hân hoan toát lên vẻ đôn hậu và khoan dung độ lượng của vị Thần Linh.

Tác phẩm điêu khắc này, được các nghệ sĩ CHĂM đã viết lên bằng ngôn ngữ tạo hình; với đường nét tinh tế, làm rõ nét nổi bật đức tinh và quyền năng của Thần Thánh.

Ngoài những tác phẩm điêu khắc trong khu Mỹ Sơn E-1, Thánh Ðịa Mỹ Sơn còn có một tác phẩm điêu khắc đặc biệt trong Mỹ Sơn E-5, đó là tượng đứng GANESA. theo các nhà khảo cổ học, pho tượng GANESA tròn, đứng là tác phẩm điêu khắc thuộc về “hình tượng học” của Ấn Ðộ giáo. Nhưng, ngay tại quốc gia Ấn Ðộ và các nước vùng Ðông Nam Á, có ảnh hưởng văn hóa Ấn Ðộ, cũng ít tìm thấy loại tác phẩm điêu khắc như tượng GANESA. Theo các nhà khảo cổ, loại tượng tròn và đứng nêu trên, chỉ có một tượng duy nhất ở miền Nam nước Ấn và một tượng ở Thánh Ðịa Mỹ Sơn E-5 của Champa.

Tượng Thần GANESA tròn, mập; trong thế đứng vững vàng, trông rất bệ vệ. Các nghệ sĩ CHĂM đã tạc tượng và chạm trổ rất kỳ cong, vì Thần có 4 cánh tay, trang sức đẹp mắt với nhiều chi tiết chạm trổ; đòi hỏi nhiều công phu, nhẫn nại của các nhà điêu khắc CHĂM mới có những nét điêu khắc tinh tế như vậy.

Thần GANESA là vị Thần phúc hậu, gần gủi với con người ở thế gian; và là vị Thần mang hạnh phúc, may mắm đến cho những ai sùng tín nơi Thần.

Từ giữa thế kỷ VIII đến giữa ther kỷ thứ IX, thị tộc Cau ở phía Nam Vương Quốc Champa, có ưu thế về quyền năng và sức mạnh về chính trị quốc gia; do đó kinh đô ở Bắc Vương Quốc Champa, tức là Trà Kiệu Quãng Nam bây giờ, bắt đầu dời về phương Nam, đóng đô tại Thành phố Virapura gần Phan Rang (theo La Royaume du Champa. G. Maspero; Paris et Bruxelles 1928-page: 95-107). Cho đến giai đoạn này của dòng lịch sử, Champa vẫn còn hưng thịnh và hùng mạnh bên cạnh những Vương Quốc lân bang.

Thời kỳ này, chính là giai đoạn mà các quốc gia Ðông Nam Á, trong đó có Champa đã chấm dứt mối quan hệ kinh tế thương mại với Ấn Ðộ. Sự kiện này đưa đến sự độc lập của các Vương Quốc nêu trên về nền nghệ thuật. Mỗi quốc gia Ðông Nam Á đều hướng về nghệ thuật bản địa của dân tộc mình.

Do đó, sau phong cách Mỹ Sơn E-1; nền nghệ thuật Champa có thay hình đổi dạng: Vẫn giữ lại đặc điểm của nghệ thuật Ấn Ðộ, còn tồn động lại, lung linh như ánh đèn dầu, hay như một lớp mỏng ở mặt ngoài. Ðem nghệ thuật còn rơi rớt lại của Ấn Ðộ, kết hợp nhuần nhuyễn với nghệ thuật, mang sắc thái dân tộc; tạo nên bởi những đường nét, hình ảnh về nhân chủng bản địa, đã bộc lộ được sắc nét độc đáo của dân tộc CHĂM, xin được nêu lên trong đền Tháp thuộc vài khu khác trong Thánh Ðịa Mỹ Sơn ngoài khu Mỹ Sơn E-1:

– Kalan Mỹ Sơn F-1:

Trong nội thất có thờ một bộ Linga, Yôni. Ðầu Linga trang trí bằng một cái mũ, kết lại bằng những lọn tóc có nhiều tua buông xuống, do kỹ thuật đặc biệt của điêu khắc CHĂM.

Phần chân Tháp có nhiều lớp chồng lên nhau, trang trí bằng những nét họa cánh sen, những ô vuông và tam giác.

Những trụ cột áp vào tường, ở mỗi đầu cột trụ được điêu khắc giải lụa và hoa văn xoắn rậm rạp như hoa cúc, trông đơn giản nhưng sinh động.

Những trụ áp vào chân Tháp, được các chuyên gia điêu khắc chạm trổ hình ảnh người bán thân. Phía dưới được điêu khắc một con sư tử ngồi chồm hổm, như để bảo vệ tượng người “bán thân”.

Nơi Kalan F-1, còn có một tấm lá nhỉ, được điêu khắc một nội dung phong phú sinh động, về câu chuyện Thần Thoại, nói lên sự chiến đấu giữa Quỉ Vương Ravana và Thần Shiva, hoàng tử Rama cùng nữ Thần Parvati. Trong bức chạm tấm lá nhỉ nêu trên còn có điêu khắc con bò NanDin, thần GANESA, một đạo sĩ khổ hạnh đang ngồi bên cạnh một Thánh đường; có sư tử, voi, đã nói lên một nền điêu khắc phong phú về nội dung và sinh động về những đường nét chạm khắc.

– Tấm lá nhỉ A-1:

Ðiêu khắc Thần Shiva đang biểu diễn điệu múa thiên thần bên cạnh có nữ Thần Parvati ngồi cung kính chắp tay. Bên trái Thần Shiva là vị Thánh đang nhẫy theo vũ điệu của Thần. Ðiệu vũ huyền dịu, của Thần Shiva, chính là lúc Thần đang đem hết quyền lực của mình để chuyển động vũ trụ.

– Tượng Thần Shiva Mỹ Sơn A’-4:

Tượng Thần Shiva A’-4 cao đến 1m,40, đứng trên bệ Yôni, đặt trên đài thờ hình vuông. Ðây là một tác phẩm điêu khắc tả chân thật kỳ tài, với đầu dao mũi đục của các nhà điêu khắc CHĂM cả ngàn năm về trước. Ðặc sắc nhất là các múi tóc được kết lại một cách gọn gàng, trông đẹp và tự nhiên. Cái đẹp hơn nữa là trên chóp múi tóc có trang điểm một vầng trăng lưỡi liềm, là biểu tượng của Thần Shiva. Bộ râu mép (y như người thật) trên đôi môi dày với nụ cười có vẻ nhân hậu hiền từ; nét mặtrong sáng đầy phẩm cách của một vị Thần. Trên trán của Thần còn có một con mắt thứ ba. Vì là vị Thần hủy diệt và tái sanh hay sáng tạo; nên con mắt thứ ba này để nhìn thấu mọi việc soi sáng được thiện, ác, tốt và xấu từ đó để hủy diệt và sáng tạo cái đẹp, cái thiện hơn.

Tất cả những tác phẩm điêu khắc được trình bày qua vài trang giấy, có tánh cách đặc trưng nêu trên, chỉ là phần nhỏ; chưa thể trình bày, hết toàn bộ tác phẩm điêu khắc, tại quần Tháp Thánh địa này trong phạm vi một đặc san. Vì Mỹ Sơn Thánh địa có hơn 70 đến Tháp cổ, được học giả người Pháp H. Parmentier nhà khảo cổ lừng danh, đã phân chia thành 12 khu: A, B, C, D, H, K, L, M, N, O, E và F. Mỗi khu đền Tháp đều có công trình kiến trúc và điêu khắc theo phong cách khác nhau về tiểu tiết, theo dòng thời gian. Quần tháp nơi đây được xây dựng từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIII.

Những đường nét hoa văn, những hình ảnh về con người, Thần Thánh, chim Thần, chim muôn, kỳ hoa dị thảo trên Thành tường gạch (Thân Tháp), trên những mãng Sa Thạch; gắn chặt vào Vòm Cuốn, vào Tiền Sãnh đền Tháp, thuộc quần Tháp Mỹ sơn; là những tác phẩm điêu khắc tuyệt tác của chuyên gia CHĂM, được chạm khắc một cách tinh tế, linh hoạt, trao chuốt qua đầu dao mũi đục cả trước và sau thời Trung cổ.

Hơn cả ngàn năm trôi qua, tiền nhân CHĂMPA đã để lại cho hậu thế những bí ẩn, mang tính huyền thoại, đối với công trình kiến trúc và điêu khắc đền Tháp Chăm.

Nó mang tính huyền thoại, bởi vì những viên gạch nung chín rồi rất cứng, rắn chắc. Tại sao có thể đục đẽo, chạm khắc mà không hề bị sức mẻ những đường nét trên gạch; những hình ảnh tinh tế, trao chuốt, đẹp đẽ như đồ kim hoàn? Chỉ có những viên gạch còn mềm, chưa nung chín, mới có thể đục đẽo dễ dàng như vậy. Sự kiện này khiến cho những học giả nghiên cứu, những chuyên viên khảo cổ nghĩ rằng: người CHĂM phải xây Tháp bằng gạch mộc (gạch còn sống, còn mềm, chưa nung chín). Sau đó mới dùng kỹ thuật điêu khắc hình ảnh. Rồi toàn bộ đền Tháp được đem nung trong một lò lửa khổng lồ. Tuy nhiên, lập luận trên bị học giả cũng là nhà khảo cổ nổi tiếng người Pháp H. Parmentier, người đã trực tiếp nghiên cứu, tu sửa Thánh Ðịa Mỹ Sơn cho là ngây ngô vì gạch mộc còn ướt không chịu đựng nỗi một khối lượng của đền Tháp cao từ 20m đến 25m kia.

Ðể làm hé mở phần nào bức màng huyền thoại này, những công trình nghiên cứu mới đây, của các chuyên gia Việt và Ba Lan đã được công bố vào năm 1986 rằng: chính tính chất cấu trúc đặc biệt của viên gạch, đã biến mặt tường các đền Tháp CHĂM thành nền tảng lý tưởng cho ngành điêu khắc CHĂM ngày xưa. Vì gạch CHĂM được dùng bằng đất sét đã làm sạch; nên dù được nung chín ở nhiệt độ không cao, nhưng vẫn có độ đồng nhất tốt, có cường độ chịu sức ép lớn. Cũng chính nhờ chất liệu GẠCH CHĂM là khoáng sét trong nhóm “ILIT” nên gạch có độ xốp và mịn tốt và là chất liệu lý tưởng cho điêu khắc.

Cũng theo nghiên cứu và phân tích khoa học của các chuyên gia Ba Lan, chúng ta được biết GẠCH CHĂM nhẹ, xốp (theo tiêu chuẩn: PN-68/B-12001) loại 50, có trọng lượng riêng 1,522g/cn3, (nhỏ hơn so với GẠCH sản xuất hiện nay – thường là: 1,8g/cm3), không có “tiếng vang”; độ đồng nhất tốt; độ hút nước khoảng 27 và cường độ chịu sức ép là: Re=53,1 kg/cm3 [Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Ngô Văn Doanh: Thánh Ðịa Mỹ Sơn, trang 31].

Do cấu trục đặc biệt của GẠCH CHĂM, nên khi các chuyên gia điêu khắc CHĂM đục đẽo, chạm khắc lên gạch bằng đầu dao mũi đục, gạch không hề bị bể hay sức mể và chỉ vụn tơi ra thành bột gạch ở mũi dao mũi đục.

Nhưng, dù sao những kết quả nghiên cứu nên trên, cũng chỉ là quan điểm nêu ra, để làm hé mở bức màng huyền thoại, về nghệ thuật điêu khắc của người xưa, trên nền tảng GẠCH và Sa Thạch của đền Tháp Champa cách đây từ 15 thế kỷ (1500 năm). Chưa có cơ quan nghiên cứu nào, cho thực hiện những tác phẩm điêu khắc trên GẠCH, qua đầu dao mũi đục như người xưa được công bố rõ ràng.

Tóm lại, nhờ chất liệu cấu trúc đặc biệt của GẠCH CHĂM, tính kiên nhẫn tỉ mỉ khéo tay, và sở trường sử dụng mũi dao mũi đục; cùng với một tâm hồn khoáng đạt, một tính đam mê nghệ thuật và lòng dạ sắt son với bản sắc dân tộc. Các chuyên gia điêu khắc Champa, từ thời gian mịt mờ của quá khứ, đã để lại cho hậu thế Champa và cho nhân loại, những tác phẩm điêu khắc trên nền GẠCH và đá SA THẠCH vô cùng trác tuyệt.

 

LÀ TIẾNG QUỐC GỌI HỒN CỦA MUÔN KIẾP

DÂN CHIÊM TRONG NỔI SẦU VẠN CỔ

Thánh Ðịa Mỹ Sơn, miền Tâm Linh mầu nhiệm, Trung Tâm Thần Quyền của Quốc Gia Champa, đã nổi trôi theo vận nước. Bao phen quân xâm lăng Trung Hoa, Campuchia tàn phá đất nước và Thánh địa; Triều đình và dân tộc Champa đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi. Thánh địa được xây dựng, trùng tu lại và phát triển, ngày một nguy nga tráng lệ hơn.

Năm 1471, Ðại Việt dốc toàn lực tấn công và san bằng Thành Ðồ Bàn Bình Ðịnh (thủ đô Vijaya). Ðất nước và dân tộc Champa điêu linh, tan tác trong máu lửa và nước mắt, đớn đau khôn xiết ngập cả núi sông.

Ðất nước Champa thu hẹp dần, và sau lần thất bại thê thảm ở Thành Ðồ Bàn, Champa lui về phương Nam đóng đô ở Panduranga, cũng từ đó, Thánh Ðịa Mỹ Sơn rơi vào cảnh cô liêu hoang vắng, không ai tế tự phượng thờ.

Suốt 500 năm hoang phế, rong rêu, cây cối, giây leo phủ đầy để ký sinh, cùng với sự soi mòn của nắng gió mưa sa.

Mãi đến năm 1898, một người Pháp M.C Paris phát hiện Thánh tích này trong thâm sơn cùng cốc Mỹ Sơn. Sau đó nhiều nhà khoa học Pháp thuộc viện Viễn Ðông Bác Cổ Pháp, ra công nghiên cứu, trùng tu lại đền Tháp với hơn 70 công trình kiến trúc Tháp đền của Thánh địa.

Ðến năm 1945, chiến tranh lại bùng nổ, Thánh Ðịa Mỹ Sơn lại bị bỏ quên, vì không ai dám bén mãn tới và tình trạng hoang phế lại bao trùm cả miền đất tâm linh này.

Ðến năm 1969, trong cuộc chiến Nam, Bắc Việt Nam; Hoa Kỳ dùng máy bay chiến lược B-52, ném bom rãi thảm toàn vùng Thánh Ðịa vì có Bộ Ðội Cộng Sản trấn đóng trong vùng này. Toàn bộ Thánh địa với nhiều tác phẩm nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc tuyệt tác, trong đó có Tháp cao đến 24m trong khu Tháp A-1 đã bị phá sập hoàn toàn thành một đống gạch ngổn ngang! Các khu Tháp khác đều bị bom đạn đại bác xoi thủng loan lỗ phá sập. Với tổng thể công trình kiến trúc đa dạng, hơn 70 cái, sau lần ném bom này chỉ còn lại khoảng 30 đền Tháp. Ðến giai đoạn này cũng chưa có nhà khoa học nghiên cứu hay khách du lịch nào dám đến vì lý do an ninh. Ðường vào Mỹ Sơn còn quanh co khúc khuỷu, rừng núi hai bên đường đất này còn hoang dã rậm rạp.

Mãi đến sau 1975, khi Việt Nam thống nhất đất nước, sau một thời gian khai lối con đường đất ngoằn ngoèo, cũng như tháo gỡ mìn bẫy trước đây trong vùng Thánh địa thật sự an toàn rồi; khi đó mới có các nhà khoa học khắp nơi trên thế giới và Việt Nam, tìm đến nghiên cứu, khảo sát, tiếp nối công trình các nhà khoa học Pháp cách đây gần cả trăm năm; và khách du lịch được đến thăm viếng Thánh tích cổ kính ngàn năm nổi tiếng này.

 

Cry, beloves country !

(Khóc lên đi ôi quê hương yêu dấu!)

Alan – Paton

Ðến hôm nay, ở tuổi “thất thập cổ lai hy” tôi mới có cơ hội tìm về nguồn cội. Ðến với “Quê hương Thần Thánh” dưới trần gian mà tôi đã hằng mơ ước khi còn là một học sinh Trung học. Tôi mơ ước vì đây là vùng đất mầu nhiệm của các vị Thần Linh với những đền Tháp thâm nghiêm tráng lệ, được xây dựng lên bằng tâm huyết của các Vương Quyền Champa, bằng mồ hôi nước mắt của cả một dân tộc để tế tự, phượng thờ những Thần Thánh linh hiển có quyền năng tối thượng, để bảo bọc, che chở cho dân tộc và đất nước Champa.

Thật là bùi ngùi xót xa khi đứng trước đền xưa tháp cũ, nay đã hoang tàn đổ nát, đúng như thi sĩ Chế Lan Viên đã than thở trước cảnh vật điêu tàn này:

Ðây những Tháp gầy mòn vì mong đợi

Những đền xưa đổ  nát dưới thời gian!

(Ðiêu tàn – Chế Lan Viên)

Còn một số đền tháp tương đối nguyên trạng, đứng sừng sững, nhưng đã lộ vẻ phôi pha, loang lỗ vì bom đạn chiến tranh, vì nạn xâm thực cây cối, nắng gió mưa sa; đứng trầm mặc u sầu, oán trách tạo hóa gây cảnh tang thương, biến đổi miền đất linh thiêng mầu nhiệm này:

Ta hãy nghe trong lòng bao đỉnh Tháp

Tiếng thở than, lòng oán trách cơ trời!

(Ðiêu tàn – Chế Lan Viên)

Bốn bề Thánh địa đều là núi rừng bao phủ, cảnh sắc thâm u, thinh không vắng lặng; đưa tôi về với quá khứ xa xăm, cảm thấy mình đang đứng trong lòng lịch sử dân tộc, của một hào quang Thần Thánh chói lọi nước non Chiêm!

Những cột đá, pho tượng, những tường gạch Tháp Thiêng, đều bị rong rêu thay màu đổi sắc; biến thể thành những lời kinh cầu của các Vương Quyền của dân tộc Champa, của khách hành hương từ ngàn năm cổ đại lịch sử, như còn âm vang nhè nhẹ tỏa cả vùng không gian Thánh địa, hòa lẫn với hương sắc điêu tàn chung quanh tháp thiêng; đưa tôi vào không gian huyền dịu, linh ứng; như mơ hồ lãng đãng, bắt gặp một Vương Quốc Champa huy hoàng trong một thế giới mông lung huyền ảo.

Cả ngàn năm lịch sử trước đây, trong những đêm thượng tuần, khi vầng kim ô đã khuất sau rặng núi hướng Tây; ánh trăng non huyền lan tỏa khắp vùng Thánh địa; hay những đêm trung tuần, chênh chếch bóng trăng khuya, sáng tỏa cả quê hương Thần Thánh. Ðây chính là lúc sinh hoạt của Thần Thánh về đêm, nhằm che chở bảo bọc cho các Vương Quyền, cho dân tộc và đất nước Champa.

Thời gian 700 năm trở lại đây, miền tâm linh không ai thờ phượng (sau khi Thành Ðồ Bàn thất thủ). Ðêm đêm chỉ là sương bạc trùng trùng, phủ khắp núi rừng Thánh địa; các Thần Thánh hiển linh đã rời xa cố quốc; chỉ còn là tiếng rên rỉ than van suốt canh trường của các oan hồn tử sĩ, của ve sầu, của chim Quốc, chim Gia, khóc than cho số phận của một dân tộc, đã bị tan nát dưới những nhát kiếm oan khiên của định mệnh!

Nhìn qua công trình kiến trúc đền Tháp, ông Ðào Ðăng Vỹ có nói: “Tất cả nhựa sống của dân tộc CHÀM hình như đã thu hút hết vào những kiến trúc đồ sộ (mà nay ta còn nhận thấy một phần trong các di tích của những Tháp Chàm) và đã bị suy tàn trong mấy thế kỷ lịch sử vô cùng bi đát”.

Thật vậy, đền Tháp suy tàn, sắc màu của gạch đá đều bị pha trộn bởi ánh thời gian, phong ba bão táp, nửa mờ nửa xanh rêu, nửa đen bạc, tạo ra cái vẻ u minh của đền Tháp. Trước cảnh suy tàn bi đát này, có ai còn nhớ đến những lời ông Bao La ca sĩ: “Chiêm – Thành là một nước độc nhất có hoa Ngọc Lan (tức Hoa Champa), có kỳ nam (loài gỗ thơm và quý), có trầm hương, Bạch Tượng và Yến Sào” Ấy, thế mà nay, dân tộc Champa suy vong này, sau vài trăm năm phiêu tán, đời sống như úp mặt vào tường. Sống âm thầm dọc theo thung lũng miền Trung, xoay mặt vào những rặng núi Trường Sơn xanh thẩm để thì thầm với bóng tối niên trường trong kiếp sống cô liêu, hoang dã. Lại nữa, với bao nhiêu trăm ngàn dân tộc Champa khóc, sống lầy lội vất vưởng nơi đất khách quê người xứ lạ, vì sự xua đuổi của Minh Mạng, bắt buộc phải rời khỏi quê cha đất tổ, đi đâu thì đi bằng mọi cách. Có một số đi đường bộ qua Campuchia. Số khác dùng thuyền buồm, ghe bầu nhấp nhô trên sóng cả đại dương đi Hải Nam Trung Quốc, đi Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Campuchia gây ra biết bao sinh mạng chết chốc thảm thương trên biển cả!

Ngày nay sau 1975, những người Việt Nam bỏ nước ra đi vì không chấp nhận chế độ cộng sản, số khác ra đi vì kinh tế chứ chính quyền cộng sản không xua đuổi họ. Số này đi bằng ghe thuyền máy móc tân tiến an toàn hơn thời đại mấy thế kỷ trước. Thế mà vẫn không biết bao nhiêu sinh mạng người Việt vùi thay biển cả, thấy thật là tội nghiệp! Huống hồ trước đây mấy thế kỷ dân tộc Champa vì sự bức bách, phải lìa khỏi nơi chôn nhau cất rốn bằng ghe buồm ghe bầu thời đó; với phương tiện này còn chết thê thảm biết là bao!

Tôi đang suy nghĩ miên man đến những nỗi bất hạnh, đầy xót xa và máu lệ xẩy đến cho dân tộc CHĂMPA; thì một phái đoàn khoản 6,7 người tuổi từ 55trở lên, cũng vào thăm Thánh địa. Họ thấy có vài ba người phụ nữ CHĂM đang nói chuyện với tôi bằng ngôn ngữ CHĂM. Họ đến gần tôi và hỏi: Ðây có phải là nơi trao đổi “Huyền Trân Công Chúa” với vua Chế Mân ngày xưa mà tôi còn nhớ hai câu thơ:

Hai châu ô lý vuông ngàn dặm

Một gái Huyền Trân đáng mấy mươi?

Có phải nơi này không ông? Tôi trả lời không phải. Hai châu ô lý đó ở vùng Quãng Bình, Quãng Trị, Huế bây giờ chứ không phải ở đây.

Người phụ nữ ấy khoảng 58 tuổi, mặc áo bà ba họa màu vàng quần sa tanh đen, ăn nói nhỏ nhẹ, họ giới thiệu là phái đoàn giáo chức hồi hưu từ miền Tây, du lịch tour đến Thăm Thánh Ðịa Mỹ Sơn. tôi nói bông đùa cho vui: Nếu bà sinh ra thời Huyền Trân Công Chúa, có lẽ vua Chế Mân sẽ chọn bà và ông ta sẽ đồng ý trao đổi khu Thánh địa hiển linh này với vua Trần Nhân Tôn. Còn Huyền Trân Công Chúa chưa đủ nhan sắc như bà để vua Chế Mân phải trao đổi vùng đất tâm linh quan trọng này. Tất cả mọi người đều cười rộ lên. Vui! Lúc ấy, chúng tôi và phái đoàn đứng bên tượng Linga của Thần Shiva cao chưa tới ngực. Họ hỏi tôi về biểu tượng này (vì thấy tôi là người CHĂM); Tôi giải thích về sự sinh sôi nẩy nở, qua loa về thuyết âm dương v.v… chừng năm ba phút, rồi chúng tôi chia tay đến viếng thăm các khu đền Tháp khác.

Tôi đi khắp các khu đền Tháp trong Thánh địa, tâm tư cứ nghĩ đến tiền nhân thật là vĩ đại. Ở thời xưa cổ đại, trung cổ mà đã có những công trình nghệ thuật sáng giá, văn minh như thế này, có thể nói là rực rõ và sáng chói ở Ðông Nam Á của giai đoạn lịch sử này của nhân loại; Thế tại sao lại bị mất nước?! Hay là như Quan Tế Tướng Trần Nhật Duật Ðại Việt nói: “Chiêm thành giàu nhưng không hùng mạnh; vì đã sẵn có nguồn hải sản, đất phù sa mầu mở, khí hậu thuận hòa, thiên nhiên ưu đãi, nên dân tộc họ không phấn đấu với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, nên chỉ lo hưởng thụ, lo phát triển văn hóa nghệ thuật, chùa chiền v…. nhưng khi gặp đao binh thì thiếu kinh nghiệm đối phó!”?

Người Pháp đã nói: “Vivre c’est Lutter – Sống là tranh đấu – Ngạn ngữ Việt Nam thường nói: “Cá lớn nuốt cá bé, cá bé nuốt cá lòng tong; cá lòng tong ăn rong ăn rưới”. Thế mà tiền nhân Champa lúc nào cũng Thánh Thiện, trong khi lòng dạ thế gian nham hiểm. Loài người cứ đề cao “nhân bản”, nhưng lòng người hay “sân si”, “gian” nhiều hơn “ngoan”, “hiểm ác” nhiều hơn “lương thiện”, “tham lam” nhiều hơn “tri túc”; lòng dạ chứa “dao găm” nhiều hơn “kinh Phật”. Thần Thánh cũng chịu thua; mà tiền nhân Chămpa với bản chất nhân hậu của giống nòi, luôn tin vào Thần Quyền, dâng hết đất đai tài sản, vàng bạc, thời gian để lo tế tự phượng thờ Thần Linh mong đem an vui hạnh phúc cho dân tộc, và sự thanh bình thạnh trị cho giang sơn và tổ quốc; nhưng, để rồi cả một dân tộc ngày nay sống trôi nổi, lạc loài, bị đồng hóa, bị tủi nhục!

Ngày xưa, từ khởi đầu, tiền nhân Champa đã tiếp nhận Tôn giáo Ấn Ðộ, tin tưởng vào “Vòng Luân Hồi” và “Kiếp tái sinh” nên nhất cử nhất động đều phó mặc cho Thần Quyền; sống an nhàn, hoa mộng, thương mình, thương người.

Nếu xưa kia theo văn hóa của Tàu, học cách vừa “gian vừa ngoan”, vừa “ma mãnh” vừa “Thánh Thiện”. Còn phải học cả cái văn hóa “miệng mật lòng giáo”, học cả: “bàn tay sắc bọc nhung”, năng khiếu bành trướng và sở trường thôn tính của họ nữa; để mà biết cách ứng xử, đối phó, thì ngày nay, hậu duệ Champa đâu có thảm thương thế này!

Người Champa ngày xưa ảnh hưởng văn hóa Ấn Ðộ: “An phận, tiêu cực, bi quan, yếm thế”, rồi gởi đất nước và dân tộc theo “mây ngàn bay”, để mong chờ nơi “vòng luân hồi” và “kiếp tái sinh”! Thảm thương thay!

Dòng tâm tư cứ miên man hết suy nghĩ này đến suy nghĩ khác, rồi tôi đã chợt đứng trong khu Tháp E-1 Mỹ Sơn đây rồi; nơi có nhiều tác phẩm điêu khắc trác tuyệt; nhưng mà tại sao, khi nhìn vào đền Tháp, cứ thấy dáng vẻ và sắc thái u buồn, khắc khoải, do phát xuất từ “Lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. (Nguyễn Du), của chính lòng tôi, hay là như thi sĩ Chế Lan Viên đã bâng khuân tự hỏi:

“Trên đồi lạnh Tháp Chàm sao ủ rủ.

Hay hận xưa muôn thuở vẫn chưa nguôi!

Rồi những trụ cột, ghế đá, nằm ngổn ngang; những pho tượng nữ Thần Aspara (Thiên thần vũ nữ), Linga, Yoni, Chim Thần Garuda, Bò Thần NanDin v.v…, đá Sa Thạch, cả toàn thân đền Tháp, đều tỏa ra mùi hương cổ kính của triều đại từ thuở xa xưa, thổi về ngập cả hồn tôi. Trong tri giác mơ màng trước cảnh vật, tôi nghe như vó ngựa dồn dập của anh hùng dân tộc Chế Bồng Nga ra trận; và nghe những khúc “khải hoàn ca” của đoàn quân Chiêm chiến thắng, cùng những bước chân trầm mặc, của đoàn chiến tượng trên đường quay về đất nước Champa. Hồn vẫn lâng lâng như mơ hồ, lãng đãng những khúc hát của một thời thanh bình thịnh trị của muôn lớp dân Chiêm. Những hình ảnh e ấp, thẹn thùng của những Chiêm nữ, trong xiêm y thướt tha mềm mại nơi cô thôn trong những buổi chiều tà êm ả:

Ðây những cảnh Thái bình trong Chiêm Quốc

Những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi

Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay lại Ấp

Áo hồng nâu phủ phất xỏa lời vui.

(Ðiêu Tàn – Chế Lan Viên)

Miền đất Thánh Linh nhiệm mầu này cũng là Trung Tâm Quyền Lực Quốc Gia Champa. Nơi đây các bậc vua chúa ngày xưa, các bậc tu sĩ lãnh đạo tinh thần, các bậc hiền sĩ, những tao nhân mặc khách thường đến thăm viếng, nhất là hằng năm vào ngày lễ hội lớn dân tộc; không những trong Vương Quốc Champa, mà ngay cả các nước lân bang ảnh hưởng văn hóa Ấn Ðộ cùng thời, đến thăm viếng v.v… Nơi đây cũng là nơi tao ngộ đầu tiên giữa Vương Quyền Paramesvaravarman I với bậc anh thư Mỵ-Ê (Tức Bia-Mih Ai), sau này nàng trở thành Vương Phi của Vua Paramesvaravarman đệ I; và là một hồng nhan Trinh Liệt của dân tộc Champa. Năm Hưng Long 21 đời nhà Lý của Ðại Việt phong cho Vương Phi My-Ê: “Hiệp chánh Hựu-Thiên Trinh Liệt chân mãnh Phu Nhân” (Trích: Chế Lan Viên của Hoàng Ðiệp (nhà xuất bản Khai Trí). Sự thể rằng: “Vào năm Giáp Thân, năm 1044, Vua Lý Thái Tông Ðại Việt tiến quân vào thành Phật Thệ bây giờ là Quốc Ðô của Champa. Tướng Chiêm là Quách Gia Dĩ đã phản bội, giết vua Paramesvaravarman I rồi đầu hàng giặc. Vua Lý Thái Tông bắt Vương Phi MỵÊ và các cung phi, nhạc nữ xuống Thuyền đưa về Ðại Việt. Trên giòng sông Châu Giang thuộc địa phận Phủ Lý, nhà  vua thấy Vương Phi Mỵ-Ê có nhan sắc nên sai quan Trung Sứ mời nàng sang chầu ngự Thuyền của Vua; nhưng nàng thủ tiết với Phu Quân, nên nhẩy xuống giòng nước Châu Giang tuẩn tiết theo chồng!”

Ôi quốc phá gia vong! Ôi giang sơn cẩm tú! Ôi điện ngọc cung vàng! Ôi lương dân bá tánh của Vương Quốc Champa! Ôi một dân tộc bất hạnh, và chừng đâu đây điệu ca Nam Bình trầm buồn vang lên từ giòng Hương Giang lờ lững hay là tiếng thổn thức của Vương Phi My-Ê từ trong hư không vọng lại! nhớ đến giòng Châu Giang sâu thẳm đã rửa sạch lòng dạ sắc son; chung thủy đầy Trinh Liệt của nàng!

Ðêm khuya tiếng khóc hồn vong nữ

Thành cũ cung son lớp bụi mờ

Trinh tiết mượn dòng sông gởi xác!

Nghìn năm còn tạc mộ bia xưa

(Thảo ca Nguyễn Xuân Phần)

“Tiếng Khóc My-Ê”

Sau khi quan sát hết các khu Ðền Tháp, số đền Tháp thật sự còn hiện hữu như sau:

Khu A còn 03/19 cái. khu B còn 08/14. Khu C còn nguyên 7/7. Khu D còn 03/06. Khu E còn 03/09. Khu F còn: 02/03; Khu G: 03/05. Khu H còn 01/04. Khu K còn nguyên 01/01.

Các khu: L, M, N, O: đã hoàn toàn phá sụp đổ hẳn!

Trải qua cả ngàn năm lịch sử, với biết bao tâm huyết của các Vương Quyền và dân tộc Champa ngày xưa, đã xây dựng đền Tháp để thờ phượng Thần Thánh hiển linh, với ước vọng Quốc Gia Dân Tộc được cai trị bằng Luật tục của thế quyền và được điều hướng bởi những quyền pháp nhiệm mầu, của những đấng linh thiêng, đầy lòng hào hiệp bao dung toàn thiện toàn mỹ. Phương thức và đường hướng cai trị này, đã đem lại một đất nước Champa, yên bình trong vòng tay thần thánh. Một xã hội an vui nề nếp, của một dân tộc có tập quán, tôn kính đấng linh thiêng; và tha thiết với cảnh sống tiêu sơ, nhàn tản và bình dị của nền văn minh nông nghiệp.

Vương Quốc Champa ngự trị cả rừng núi Tây Nguyên và lan tỏa xuống dọc theo bờ biển miền Trung ngày nay, từ Quãng Bình đến Bình Thuận; ngàn năm soi bóng bên bờ Thái Bình Dương, đã kiến tạo một Thánh Ðịa Mỹ Sơn kỳ vỹ, huyền nhiệm, đầy quyền năng Thần Thánh. Miền đất Thánh Linh này, đã chứng kiến nhiều thế kỷ huy hoàng và cả những chuỗi thời gian điêu linh tang tóc của lịch sử dân tộc.

Trên bước đường nổi trôi của dòng lịch sử, Thánh địa luôn luôn bao bọc che chở, cho một đất nước và dân tộc đầy ẩn trắc, với một lịch sử đầy hiển hách và lẫn cả bi thương! Một dân tộc đã góp phần cống hiến cho đời, một nền nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc tuyệt mỹ trong nền văn minh cổ đại; và lưu lại cho hậu thế những trước tác trên bia đá: “những tài liệu lịch sử vô giá” của một dân tộc tưởng chừng đã xóa nhòa trong cát bụi của thời gian!

Những diễn biến xẩy ra trên vùng đất “Quê Hương Thần Thánh” này của Mỹ Sơn, trong suốt chiều dài lịch sử; đã làm cho nhân loại cảm thán, rồi lãng quên trong giai đoạn hoang phế, để rồi ngày nay họ phải bàng hoàng xúc cảm khi đứng trước một Thánh địa điêu tàn đầy phế tích!

Nhưng, những đền Tháp thâm nghiêm, rêu phong loang lỗ đó, vẫn đứng im lìm trong suy tưởng, để chia xẻ với những nỗi đớn đau nghiệt ngã của dân tộc Champa, lúc vinh quang rực rỡ cũng như lúc lụi tàn của vận nước suy vong!

Một dân tộc tài hoa, sáng tạo một Mỹ Sơn Thần Thánh với giá trị tâm linh mầu nhiệm, sản sinh một nền văn hóa nghệ thuật đầy tính nhân bản thâm thúy; có một trình độ nông nghiệp khá cao, (theo tác giả E-O Reischauer và J.K. Frirbank trong sách East Asia: “vào đầu thế kỷ 11 người Trung Hoa học được cách trồng lúa Chiêm của người Chiêm Thành, nhờ đó sản lượng lúa tăng gấp đôi từ thế kỷ 11 qua thế kỷ 12” đời sống dân tộc sung mãn. Nhưng rồi có lúc đối phó với cảnh sống thiên tai mất mùa quẫn túng, gian lao muôn vàn thử thách, của một thế giới loài người đầy bất trắc, lên xuống như nước đầy vơi. Ðể rồi sau cùng, đất nước phải can qua tan nát; dân tộc phiêu tán điêu linh, khiến cho “Thần Thánh Mỹ Sơn” cũng phải ngậm ngùi nhỏ lệ trước những tham vọng nham hiểm và bất chính của loài người!

Những điều nghịch lý này chỉ còn biết ta thán với “dòng định mệnh dân tộc” trong triết lý nhân sinh vô thường của Phật pháp”.

Mấy trăm năm qua rồi, bao nhiêu cảnh đổi thay của nhân loại. Qui luật tất yếu của lịch sử, là có sinh tồn và có biến đổi. Trên bản đồ nước Việt Nam ngày nay, trước kia có nhiều quốc gia khác tồn tại nơi đây như: Nam Chiếu, Chân Lạp, PhùNam, Chiêm Thành … Những nước này không còn nữa, ra đi theo qui luật của lịch sử! Qui luật do tạo hóa bày ra hay do con người? Trong bài thơ “Thăng Long Thành Hoài Cổ” Bà Huyện Thanh Quan than thở cho cảnh đời đổi thay như sân khấu, trước có cảnh ngựa xe tấp nập, nay chỉ có thảo mộc; trước có lâu đài tráng lệ nay chỉ là nắng chiều u tịch; giống như cảnh phế tích của Thánh Ðịa Mỹ Sơn:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường.

Ðến nay thắm thoát mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa, hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài, bóng tịch dương

Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường!

Nhưng, cứ nhìn vào đất nước Tây Tạng hiện nay đang giẫy giụa trong đớn đau, ngợp thở và lụi tàn với Trung Quốc, khiến cho người đời nay không qui trách cho tạo hóa như Bà Huyện Thanh Quan … Người đời với những gì xẩy ra trên thế gian này, họ nghĩ đến “cá lớn nuốt cá bé”; “mạnh được yếu thua”.

Cũng trong hai thập niên qua, nếu không có sự can thiệp của Hoa Kỳ đời Tổng Thống Georg. H. Bush thì đất  nước Kwait ở Trung Ðông đã bị Sadam Hussein của IRAQ nuốt chửng rồi. Và rồi đây nhân loại sẽ còn thấy những gì sẽ xẩy ra khi nhìn những đám mây vần vũ bão giông trên bầu trời Ðông Nam Á hiện nay?

Ðúng như câu dân gian thường nói: “Ðại mộc lưu gian bất phản hồi cố địa”. Mặc dù Nam Chiếu, Chân Lạp, Phù Nam, Chiêm Thành không phải là đại mộc; chỉ là những nhánh cây tre bồng bềnh trôi theo dòng lịch sử và đã trôi rồi sẽ không bao giờ trôi ngược dòng để “phản hồi cố địa”.

Như những hậu duệ La Mã ngày nay, không thể đòi lại được những đô thành của mình hiện nay trên đất Ý, Ðức, Pháp, Phổ. Người Mông Cổ ngày nay cũng không thể kéo dài biên cương của mình sang đến nước Ấn Ðộ, Nga, Trung Quốc, Pakistan như thời Thành Cát Tư Hãn còn hét ra lửa với vó ngựa xâm lăng hải hùng kinh đởm của họ từ thế kỷ 13 thời Trung Cổ.

Dù vậy, đối với dân tộc CHAMPA, như  ALFRED Musset đã nói: “Rien ne nous rend sigrand qu’une grand douleur”. “Không có gì làm cho chúng ta trở nên vĩ đại bằng một nỗi đau thương to lớn”. Do đó, chúng ta là hậu duệ của dân tộc Champa không nên biến đau thương thành hận thù, vì hận thù không mang lại niềm vui và hạnh phúc và làm cho chúng ta không còn vĩ đại như ALFRED Musset đã nói. Hãy đổ ly rượu đắng cay chua chát ấy bằng một ly cam đường sẽ ngọt ngào hơn. Con người, chỉ có hối tiếc, ân hận và bù đắp mới đem lại hạnh phúc cho mình và cho người; và đó là bản chất của “Nhân bản” của “văn minh”, và đó là những điều mà chỉ có dân tộc thật sự văn minh mới làm nổi!

Cảm ơn nhạc sĩ Châu Kỳ đã sáng tác nhạc phẩm “Tiếng hát dân Chăm”. Cảm ơn nhạc sĩ Xuân Tiên qua bản “Hận Ðồ Bàn” tuyệt diệu ấy. Cảm ơn Thi sĩ Chế Lan Viên đã đi vào mộng để dệt tập thơ: Ðiêu Tàn; và người sau cùng tôi xin được nói cảm ơn với tất cả sự trân trọng là giáo sư Lý Chánh Trung, trong tác phẩm “Tìm Về Dân Tộc” ông ta đã hiểu nỗi “niềm nhớ khôn nguôi” của dân tộc CHÀM trong đoản khúc sau đây: “Vương Quốc CHÀM không còn nữa, nhưng nó vẫn hiện diện trong nỗi nhớ thương khôn nguôi của những người CHÀM còn lại; trong giọng hát não nùng của Nam Bình, Nam Ai; trong những dòng thơ của Chế Lan Viên, trong niềm hối tiếc sâu xa của người dân Việt”.

Ngày xưa, khi nhớ đến Bằng Phi (là Thứ Phi của Vua Tự Ðức) Ngài xúc cảm:

Ðập cổ kính ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y để lại dành hơi.

Tấm gương nàng soi bóng hằng ngày lúc còn sinh tiền, nay vì nhớ nhung, nên phải đập gương ra để tìm hình bóng người yêu dấu của Ngài.

Trong những viên gạch rêu phong của đền Tháp Mỹ Sơn, các nhà khoa học Việt Nam, Ba Lan, Pháp, Nhật v.v… đã cưa xẻ những viên gạch để tìm chất kết dính giữa hai viên gạch là “hồ vữa”, là cây xương rồng pha mật ong, hay là “dầu rái”? Nhưng với dân tộc Champa “chất kết dính” đó là những nhựa sống, là hồn dân tộc, là những lời cầu nguyện của các Vương Quyền và của dân tộc Champa cổ, đã tích lũy vào đó từ ngàn năm lịch sử của Thánh địa, của đời sống tâm linh, thế giới bên trong miền tiềm thức của những người không còn có mặt ở trần gian nữa.

Chừng nghe đâu đây tiếng “Quốc gọi hồn” của Bà Huyện Thanh Quan:

– Nhớ nước đau lòng con Quốc Quốc

– Thương nhà mỏi miệng cái Gia Gia!

Ðền Tháp rêu phong Thánh địa, ngày ngày đứng trầm mặc trong nắng sớm mưa chiều, để chìu lòng khách viễn phương tìm đến vổ về thương cảm! Ðêm đêm “ra rả” tiếng Quốc gọi hồn” với cung điệu bi thương của muôn kiếp dân CHĂM, trong nỗi sầu vạn cổ!

 

CHÚ THÍCH:

(1) N.E, Myson II. P.10 TKP; Mỹ Sơn trong lịch sử Nghệ thuật Chăm.

(2) N.E. Myson III. Trần Kỳ Phương. P11 Mỹ  Sơn trong lịch sử Nghệ thuật Chăm.

(3) N.E. Mysơn V. TKP. Mỹ Sơn trong lịch sử Nghệ Thuật Chăm P11.

(4) E. Huber – Stele de Dưỡng Mông, Quãng Nam, B.E.FE.O. XI, P. 262.

(5) P.Mus – L’inscription à Valmiki de Prakasadharma B.E.F.B.O. XX VIII. P. 117

(6) Thánh Ðịa Mỹ Sơn. Nhà xuất bản Trẻ – NVD P. 186.

(7) S.C., P. 121 et 127.

(8) La statuaire du chau pa – J. Boisselier, Pari 1963. O. 144-145.

(9) N.E. Myson XIII. Mỹ sơn trong lịch sử Nghệ Thuật Chăm. Trần Kỳ Phương trang. 14.

(10) N.E. Mysơn XVII.

(11) N.E. Mỹ Sơn XIII.

(12) R.C. Pg 153-154 (La Royaurue du Champa. G. Maspéro, Paris et Bruxelles-1928.

(13) R.C. Pg 153-169.

(14) Mỹ Sơn trong lịch sử nghệ thuật CHĂM. Trần Kỳ Phương. Trang 15.

(15) et

(16) : N.E Myson XXII.

(17) Mỹ Sơn trong lịch sử nghệ thuật Chăm. Trần Kỳ Phương trang 16.

(18) N.E. Mỹ Sơn XXIII.

(19) N.E. Myson XXIV.

(20) Lastatuaire du Champa – J. Boisselier, Paris – 1963.

(21) R.C. Og. 153 and continue.

(22) Mỹ Sơn trong lịch sử nghệ thuật Chăm. TKP. Trg 17.

 

NHỮNG SÁCH THAM KHẢO

 

1.                 Thánh địa Mỹ Sơn (Tiến sĩ Ngô Văn Doanh. Nxb Trẻ).

2.                 Bán Ðảo Ấn Ðộ (Giáo sư Phạm Cao Dương. Lửa Thiêng).

3.                 La Statuaire du Champa. J. Boisselier, Pari 1963.

4.                 Mỹ Sơn trong lịch sử nghệ thuật Chăm (Trần Kỳ Phương).

5.                 Những Di sản nổi tiếng thế giới (Trần Mạnh Thường. Nxb: Văn Hóa Thông Tin)

6.                 The Art of Champa (Jean – Francois Hubert. Parkstone – International).

7.                 Champa and the Archaeology of Mỹ Sơn ViệtNam. (Andrew Hardy; Mauro Cucarzi and Patrizia Zolese, Editors).

8.                 Tìm Về Dân Tộc. Lý Chánh Trung.

9.                 Chế Lan Viên của Hoàng Ðiệp. Nxb Khai Trí.

 

.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *