Katê – Lễ hội Champa Truyền Thống Và Triển Vọng

 Jalan Riya  Sưu tầm

Gần đây lễ hội Katê hằng năm đã là nguồn cảm hứng của nhiều cây viết. Đã có rất nhiều bài viết về Katê. Rất tâm đắc với một số bài viết về Katê, cũng như theo yêu cầu và khích lệ của một số thân hữu, tôi xin được giới thiệu đến bạn đọc Vijaya, cũng như những ai quan tâm đến văn hóa, nhân văn. Chúng tôi không muốn làm một việc là viết lại mà giữ nguyên bản gốc của các tác giả đã có về Katê.

Vương quốc Champa

Theo tiến sĩ Po Dharma trong  «Góp phần tìm hiểu lịch sử Champa» Champaka 4, đã khẳng định rằng : “Những tài liệu có dấu vết thời gian rõ ràng (sử liệu cổ Trung Hoa và các bia ký) ghi nhận vương quốc cổ Chiêm Thành chính thức xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 2, năm 192 khi quốc gia Lâm Ấp ra đời. Thật ra vương quốc này trước đó có rất nhiều tên : Hồ Tôn Tinh, Tượng Lâm. Sau này được đồng hóa với các tên Lâm Ấp, Hoàn Vương Quốc, Chiêm Thành (Campapura), Phan Rang (Panduranga), cuối cùng là Trấn Thuận Thành (Pradara). Những tên gốc Phạn vừa kể đều do người Trung Hoa hay người Việt đặt ra, dựa theo cách phát âm của người địa phương mà gọi.

Những văn kiện viết trên bia đá, sử liệu lịch sử Trung Quốc và Việt Nam, sách cổ bằng văn tự Chăm, cũng như những bài tường trình của các du khách từ các nước Âu Châu và Á Rệp đã chứng minh cụ thể rằng giữa thế kỷ thứ 2 và đầu thế kỷ 19 đã có sự hiện diện ở miền trung Việt Nam một vương quốc hùng mạnh được mang tên là: Champa.

Lãnh thổ của vương quốc Champa không chỉ bao gồm vùng đồng bằng chạy dài theo bờ biển Trung Quốc như nhiều nhà sử học thường hiểu lầm, nhưng bao gồm cả vùng Tây nguyên miền trung Việt Nam. Liên quan đến vấn đề nhân chủng Champa trong qúa khứ. 

Lịch sử cũng đã từng chứng minh rằng dân tộc Champa không chỉ dành riêng cho người Chăm, nhưng là một dân tộc đa chủng, bao gồm cả người Chăm và các anh em Tây Nguyên thuộc hệ ngôn ngữ Malayo-Polynésien (như dân tộc Jarai, Radê, Churu, Raglai, Hroi v.v.) hay thuộc hệ ngôn ngữ Austroasiatique(dân tộc Bahnar, Sédang, Stieng,Mă,v.v.

Trong qúa trình lịch sử của vương quốc này, khi nói đến Champa, thì người ta phải nhắc đến chiến tranh liên tục với Đại Việt, một láng giềng miền bắc cùng chung một biên giới. Cùng vì sự phát triển nhanh choùng của tổ chức chính trị và xã hội của Đại Việt cộng với sự khủng hoảng đất đai ở miền bắc Việt Nam vào đầu thế kỷ 14 đã gây ra một cán cân không thăng bằng trong nền bang giao chính trị giữa hai quốc gia này. Champa phải chịu từ bỏ dần dần đất đai của mình cho láng giềng miền bắc để lui về cố thủ ở phía nam, vùng Panduranga cho đến 1832, năm mà vương quốc Champa bị xóa hẵn trên bản đồ Bán Đảo Đông Dương.

Trong qúa trình lịch sử của vương quốc này, Champa chịu ảnh hưởng nặng nề của hai nền văn minh. Cho đến 1471, năm đánh dấu sự sụp đổ thủ đô Vijaya (Bình Định) sau cuộc tấn công của Đại Việt, Champa là một vương quốc ảnh hưởng nặng nề nền văn minh Ấn Độ Giáo và nền văn hóa Phạn ngữ. Nhưng sau biến cố 1471, Champa từ bỏ dần dần những gì vay mượn từ Ấn Độ Giáo để xây dựng lấy một nền văn hóa riêng, một phương thức tổ chức xã hội và chính trị riêng dựa trên truyền thống cơ bản cổ truyền của mình. Những phong cách lễ hội và cơ cấu tổ chức gia đình và xã hội Champa trong khu vực Panduranga hôm nay hôm nay đã chứng minh rõ rệt lý thuyết này. Từ năm 1471 đến năm 1832, lịch sử Champa chỉ là một qúa trình đấu tranh với bao nỗ lực của mình nhằm chống lại cuoäc Nam Tiến của nhà Nguyễn hầu bảo vệ nền độc lập và di sản văn hóa của mình.”

Trong Tìm hiểu cộng đồng người Champa tại Việt Nam- Thời vàng son- Nguyễn Văn Huy cũng khẳng định vương quốc Chămpa hùng mạnh một thời oanh liệt: “Sau thời kỳ dựng nước và mở nước khó khăn, từ thế kỷ thứ 4 vương quốc Lâm Ấp đã trở thành một thế lực chính trị đáng kể trong vùng, dưới thời Bradravarman I (Phạm Hồ Đạt), người sáng lập triều đại Gangaraja phía Bắc. Là một kết hợp của nhiều tiểu vương quốc khác nhau, lãnh thổ phía Bắc giáp ranh với quận Cửu Chân, lãnh thổ phía Nam trải dài đến mũi Kê Gà (Varella, Phan Thiết). Hào quang của Lâm Ấp chiếu sáng vùng trời Đông Nam Á, các quốc gia láng giềng đều tìm đến để làm thân.

Cho đến nay không ai biết hai miền Nam Bắc cuûa Champa đã thống nhất như thế nào, nhưng từ thế kỷ 5 trở về sau thông thương giữa hai miền trở nên liên tục và ồ ạt, lượng người và hàng hóa di chuyển từ miền Nam lên miền Bắc thay đổi dần dần cán cân quyền lực. 

Người Chămpa phía Bắc, vì phải thường xuyên đối phó với quân thù, trở nên thiện chiến ; khi mộ quân hay trên đường chạy nạn, vì bị quân Trung Hoa truy đuổi, họ khuất phục luôn những tiểu vương quốc khác đã có mặt dọc bờ biển miền Trung từ lâu đời, quen sống trong hòa bình và an lạc. Với thời gian, vương quyền miền Bắc suy yếu dần, vì dồn hết tài nguyên nhân vật lực cho chiến tranh, vai trò lãnh đạo nhường lại cho các vương triều phía Nam giàu có và hùng mạnh hơn.”

Cũng theo Nguyễn Văn Huy trong Thời kỳ xác định bản thể: “Về chính trị, vương quốc Champa được tổ chức theo định chế liên bang. Trước khi bị xóa tên, vương quốc Chiêm Thành là một kết hợp của nhiều tiểu vương quốc, từ đèo Ngang (Quảng Bình) đến mũi Kê Gà (Bình Thuận). Mỗi tiểu vương cai trị một lãnh thổ riêng, với một dân số nhất định, sinh hoạt độc lập với các tiểu vương khác và không can thiệp vào nội bộ của nhau. Theo nhiều nguồn sử liệu, vương quốc Chiêm Thành cũ (Campapura) có ít nhất năm tiểu vương quốc : Indrapura (Bình Trị Thiên), Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Nghĩa Bình), Kauthara (Phú Khánh) và Panduranga (Ninh Thuaän, Bình Thuận). Có thể thêm tiểu vương quốc Aryaru (Phú Yên) là sáu, nhưng sự hiện diện của tiểu vương quốc này trong lịch sử Chiêm Thành không rõ ràng.”

 

Người Champa là ai?

Người Chămpa có tập quán coi trọng và gắn bó với đất đai của tổ tiên. Cũng theo Nguyễn Văn Huy, đối với người Chămpa: « đất đai là một vật thể thiêng liêng không thể sang nhượng và chối bỏ. Từ ngàn xưa cha ông đã ở đây thì con cháu đời sau phải ở đó, không ai tự quyền rời bỏ quê cha đất tổ định cư nơi khác. Rời bỏ quê cha đất tổ là từ bỏ dòng tộc Kut, Kur, và từ bỏ thần linh. Chính vì thế, trong suốt dòng lịch sử đương đầu với người Kinh, cộng đồng người Chămpa chấp nhận mọi hy sinh và gian khổ để giữ đất và bám đất, cho dù quê hương không còn hay bị tước mất. Tất cả những lễ lạc trong triều chính và ngoài dân gian đều nhằm vinh danh các vị thần cai quản đất đai, vì đất là nguồn sống và cũng là nơi ngự trị của các vị thần bảo vệ đất, che chở gia đình và đồng tộc. Nếu vì một lý do nào đó ngoài ý muốn một người Chămpa phải rời bỏ quê hương đi nơi khác lập nghiệp, sinh hoạt tâm linh của người đó luôn gắn liền với nơi sinh quán cũ, vì không ai được quyền mang bàn thờ tổ tiên và thần linh đi theo, con người lệ thuộc thần linh chứ không ngược lại. Hơn nữa nếu phải ly hương, người đó cũng không thể đi ra ngoài lãnh thổ đã được thần linh che chỡ, nghĩa là chỉ giới hạn trong vùng đất của đồng tộc mà thôi. Đó là lý do giải thích tại sao tại người Chămpa không di cư ra khỏi địa bàn cư trú của họ và tại nhiều nơi, nhất là ở Bình Thuận, người Chămpa định cư tại một làng cách xa nơi sinh quán cũ cả trăm cây số nhưng vẫn muốn lệ thuộc về hành chánh và nghi lễ tại làng cũ. Đạo Hồi khi du nhập vào đây cũng phải thích nghi với tâm lý tôn thờ thần linh của người Chămpa để được chấp nhận và đã biến cải thành đạo Bani. Tất cả chỉ vì người phụ trách lễ nghi và sổ bạ hành chánh địa phương là các thầy Paseh, Tapah (nếu là giáo dân đạo Bà La Môn) và các thầy Char, Po Adhya, Po Bac (nếu là giáo dân đạo Bani). Đây là một khó khăn về quản trị hành chánh mà các chính quyền người Kinh không hiểu nổi và muốn xóa bỏ, nhiều tranh chấp đáng tiếc đã xảy ra.

Nhiều người sẽ hỏi dân số vương quốc Chiêm Thành xưa bây giờ ở đâu ? Không lẽ đã bị tiêu diệt hết sao ? Con số 100.000 người Chămpa tại Bình Thuận và Châu Đốc có phản ánh đúng sự thật không ?

Câu trả lời là không và dân chúng gốc Chămpa vẫn còn nguyên vẹn. Người Chămpa đồng bằng không đi đâu cả, họ đã ở lại trên lãnh thổ cũ tại miền Trung và với thời gian đã trở thành công dân Việt Nam một cách trọn vẹn. Có thể nói không một người Việt Nam nào sinh sống từ lâu đời tại miền Trung nào mà không mang ít nhiều dòng máu Champa trong người. Điều này cũng rất dễ khám phá, ít nhất là về hình dáng: da ngăm đen, vai ngang, mặt vuông, tóc dợn sóng, vòm mắt sâu, mắt bầu dục hai mí, mũi cao, môi dầy, miệng kín. Cũng không phải vô tình mà cách phát âm của người miền Trung khác hẳn phần còn lại của đất nước, với nhiều âm sắc thấp của người Champa. Đó là chưa kể những danh từ có nguồn gốc Champa. Cũng không phải tình cờ mà các điệu múa hát của người Chămpa trở thành những điệu múa hát trong cung đình và ngoài dân gian thời Nguyễn. Nêu ra một vài trường hợp cụ thể trên chỉ để chứng minh một điều: dân cư vương quốc Champa cũ đã hội nhập hoàn toàn vào xã hội Việt Nam. Nhắc lại quá khứ của người Chămpa cũng là nhắc lại quá khứ của cộng đồng người Việt tại miền Trung nói chung.» 

Chi tiết người Việt miền trung ngày nay đa phần là có gốc Chăm đã một lần nữa được Nguyễn Gia Kiểng khẳng định trong Tổ quốc ăn năn, phần dắt dìu nhau vào đến Cà Mau, rằng là trong cuộc nam tiến của người Việt, họ đã  không tàn sát và diệt chủng người Chiêm Thành, và trong khoảng thời gian đó (thế kỷ thứ 17) không có cuộc di dân qui mô lớn như sau năm 1975. Đại bộ phận người Champa đã trở thành người Việt đã taọ nên bộ phận dân số người Việt miền trung đông đảo, còn người Cham thuần túy (Champa gốc) thì hoặc bị đồng hóa hoặc dân số không phát triển: “ Người di dân Việt nam và người Việt gốc Chàm chiếm được những vùng đất canh tác tốt nên sinh sản mau chóng hơn người Chàm thuần túy bị dồn vào rừng núi. Lý do thứ hai là sự Việt hóa càng ngày càng toàn diện do sự áp đặt văn hóa và nếp sống của kẻ chiến thắng…”

Ngoài ra trong suốt thời kỳ suy tàn của vương quốc Champa từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16 và sau này. Người dân Champa đã có những cuộc ly hương với số lượng lớn dấn số đến các quốc gia sau : Khoảng 500 ngàn người ở Campuchia, hằng trăm ngàn người đã đến Indonesia, Malaysia, hằng chục ngàn người đã đến định cư ở các đảo Philipine, Hải nam, Lào và Thái Lan. Ngoài ra gần đây, hằng ngàn người đã đến định cư ở Mỹ, Canada, một số ít ở Úc và Châu Âu. (theo Quang Can trong trang web, http://www.ling.hawaii.edu/~uhdoc/champa/).

Lễ hội Katê tại Việt Nam 

Katê được Văn Món mô tả khá cặn kẽ và đầy đủ trong Sắc màu của lễ hội Katê Chăm, tôi xin được trích lại hầu bạn đọc: “Lễ hội Katê được tổ chức mỗi năm một lần vào tháng 7 lịch Chăm (nhằm khoảng tháng 10 dương lịch). Đây là lễ hội của người Chăm nhằm tưởng nhớ các vị vua maø sau naøy ngöôøi ta phong nhö laø Thaàn goïi laø Nam thần như Pô Klong Garai, Pô Rôme… Và tưởng nhớ ông bà tổ tiên, trời đất đã phù hộ độ trì cho con người. Chính vì vậy, lễ hội Katê là biểu hiện một nữa cấu trúc lưỡng hợp  thuộc về dương đối lập với yếu tố âm – Lễ Chabur – Lễ cúng các vị Nữ thần vào tháng 9 lịch Chăm. Sự đối lập, liên kết giữa Nam thần – Nữ thần, giữa Trời – Đất, Mẹ – Cha, Đực – Cái, Vùng cao – Vùng thấp… là một triết lý trong thuyết Nhị Nguyên, là nét đặc trưng phổ quát trong nền văn hóa Chăm được thể hiện sâu sắc trên nhiều bình diện như nghi lễ hội hè, ăn mặc màu sắc cho đến loại hình biểu diễn nghệ thuật khác. Tất cả những yếu tố trên toát lên nội dung, hàm chứa một ý nghĩa phồn thực với sự liên kết lứa đôi, cầu mong cho sự sinh sôi nảy nở của con người, vật nuôi, cây trồng…

Lễ hội Katê là một lễ hội dân gian đặc sắc nhất trong kho tàng văn hóa của người Chăm, là tấm gương phản chiếu sinh hoạt của cộng đồng; nơi hội tụ những giá trị tinh hoa văn hóa của dân tộc. Do đó, Lễ hội không những gắn với đền tháp cổ kính – nơi ngưng tụ những giá trị kỹ thuật và mỹ thuật cao nhất của nền văn hóa Chăm mà còn gắn với một phần khác của văn hóa như: Đồ cúng tế, y phục, nhạc cụ, những bài thánh ca, ca ngợi các vị vua hiền có công với dân, với nước và hát kể về công việc đồng áng, mùa màng, sản vật trăm hoa, trăm quả, trăm nghề. Lễ hội còn xuất trình trước công chúng một nền nghệ thuật ca – múa – nhạc dân gian mang một phong cách riêng biệt, độc đáo.  Lễ hội diễn ra trên một không gian rộng lớn, lần lược từ đền tháp (Bi môn, Kalan) – làng (Paley) – đến gia đình (Nga wôm).

Lễ hội Katê làm lay động lòng người! Lễ hội sẽ đưa những người dự lễ bước lên đỉnh cao của sự thăng hoa, say sưa theo tiếng trống Gi năng, kèn Saranai hòa vào những điệu múa của các cô thiếu nữ Chăm bay khắp cõi trời mơ. Lễ hội Katê chính là giây phút thiêng liêng ngắn ngủi của đời thường đánh thức tháp Chăm cổ kính lặng ngủ dưới lớp bụi thời gian bừng dậy, sáng lòa, tỏa ra trăm sắc ngàn hương.

Một ngày, trước khi lễ hội chính thức diễn ra tại các đền tháp Pô Nưgar, Tháp Pô Klong Garai, Tháp Pô Rôme, tại thôn Hữu Đức có tổ chức lễ đón rước y phục giữa người Raglai và người Chăm:

 

Lễ đón rước y phục của Pô Nưgar ở thôn Hữu Đức (ngày thứ nhất)  

Tất cả các y phục của vua chúa thờ ở đền tháp Chăm đều do người Raglai cất giữ. Do vậy khi đến ngày lễ Katê thì người Chăm phải làm lễ đón rước người Raglai chuyển y phục về lại các đền tháp Chăm. Đây là nghi lễ mở đầu cho ngày hội diễn ra rất trọng thể. Lễ rước y phục diễn ra ở ba đền tháp: Đền Pô Nưgar (Hữu Đức), Tháp Pô Rôme ( Hậu sanh) và tháp Pô Klong Garai ( Đô Vinh, Tháp Chàm). Trong đó lễ đón rước y phục Pô Nưgar diễn ra vào buổi chiều trước ngày hội chính thức ở đền tháp một ngày. Lễ diễn ra từ lúc 13h30 cho đến 21h00 cùng ngày. Địa điểm tại thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cách thị xã Phan Rang 12km về hướng Tây Nam. Đây là lễ đón rước y phục của Nữ thần Pô Nưgar – Thần mẹ xứ sở của người Chăm gắn liền với nhiều huyền thoại, truyền thuyết: Chính Nữ thần là thủy tổ của người Chăm, đã dạy người Chăm làm lúa, trồng bông dệt vải, và làm lễ hội như ngày nay. Lễ diễn ra tại ngôi Đền thờ (Danok) trong làng. Nơi đây, du khách sẽ chứng kiến cuộc đón rước, trao báu vật của Nữ thần và giao lưu văn hóa giữa người Chăm và người Raglai.

Còn lễ đón rước y phục ở tháp Pô Rôme và tháp Pô Klong Garai thì diễn ra vào buổi sáng trong ngày lễ chính. Mặc dầu ba đền tháp tổ chức nghi lễ đón rước y phục trong thời gian khác nhau nhưng nghi thức hành lễ cơ bản đều giống nhau.

 

Lễ hội Katê ở các tháp (ngày thứ hai)  

Lễ hội KaTê của người Chăm Ninh Thuận diễn ra ở ba đền tháp: Đền Pô Nưgar (Hữu Đức), Tháp Pô Rôme (Hậu sanh) và Tháp PôKlong Garai (Đô vinh, Tháp Chàm). Lễ diễn ra ở cả ba nơi cùng ngày cùng giờ. Các nghi lễ cơ bản như nhau, nghi thức hành lễ.Tuy lễ hội diễn ra ở ba nơi nhưng thu hút được nhiều tín đồ nhất, tổ chức qui mô nhất vẫn là lễ hội KaTê ở tháp Pô Klong Garai.

Lễ diễn ra bắt đầu từ lúc 8h30 đến 14h00 ngày hôm sau. Tháp Pô Klong Garai nằm trên ngọn đồi trầu( chơk hala) thuộc phường Đô Vinh, cách trung tâm thị xã Phan Rang – Tháp Chàm 9 km về phía Tây Bắc. Tháp Pô Klong Garai là một tổng thể kiến trúc nghệ thuật bao gồm ba ngôi tháp: Tháp chính ( Kalan Pô) cao 20,5m bên trong có thờ một tượng vua Pô Klong Garai bằng đá dưới hình thể Mukhalinga ( Linga có gắn mặt thần chủ) và một tượng Bò Nadin bằng đá ở lối ra vào; Tháp cổng ( Kalan tabah bibang) cao khoảng 8,56 m; Tháp lửa ( Thang cuh yang apui) cao 9,31m. Ngoài ra ở phía sau tháp chính còn có một ngôi miếu nhỏ thờ một phiến đá. Xung quanh tháp được bao bằng một vòng thành. Tháp được người Chăm xây dựng vào cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV để thờ vị vua Pô Klong Garai (1151 – 1205) – một vị vua có công với dân, với nước, được người Chăm suy tôn thành Thần thuỷ lợi. Tháp Pô Klong Garai là một cụm tháp hoàn mỹ, đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ trong nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chămpa. Tháp được Bộ văn hoá Việt Nam xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật vào năm 1979. Chính vì vậy, nơi đây đã trở thành trung tâm thu hút cộng đồng người Chăm Ninh Thuận trong ngày Hội Katê hàng năm.

Lễ hội được diễn ra cùng ngày cùng giờ với tháp Pô Klong Garai. Tháp Pô Rôme nằm trên ngọn đồi “ Bôn acho” thuộc thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cách thị xã Phan Rang – Tháp Chàm 15km về phía Tây Nam. Tháp Pô Rôme được xây dựng vào thế kỷ XVII để thờ vị vua Pô Rôme. Tháp Pô Rôme là một tổng thể kiến trúc gồm có ba ngôi tháp: Tháp chính, Tháp cổng và Tháp lửa. Nhưng hiện tại chỉ còn lại một ngôi Tháp chính cao 19m bên trong có thờ một tượng vua Pô Rôme bằng đá dưới hình thể Mukhalinga và một tượng thờ hoàng hậu Bia Than Chan bằng đá – người Eđê. Phía sau Tháp chính còn có một ngôi miếu nhỏ thờ tượng Hoàng hậu Bia Than Cih bằng đá – người Chăm. Còn hai ngôi tháp: Tháp cổng và Tháp lửa đã sụp đỗ. Tháp Pô Rôme không cao to bề thế như Tháp Pô Klong Garai nhưng Tháp có một phong cách nghệ thuật riêng biệt – Phong cách Pô Rôme. Tháp Pô Rôme được xem là ngôi Tháp cuối cùng trong lịch sử nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đền tháp của người Chăm ở Việt Nam. Tháp Pô Rôme còn gắn liền với vị vua Pô Rôme có nhiều huyền thoại, truyền thuyết trong mối tình sử bi đát giữa vua Pô Rôme với công chúa người Eđê – Bia Than Chan và công chúa Ngọc Khoa nước Đại Việt. Tháp Pô Rôme được bộ Văn hoá xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1992.

Trong lúc Bà Bóng đang xuất thần điệu múa thiêng trong tháp để kết thúc đại lễ thì bên ngoài bắt đầu mở Hội. Những điệu trống Ghinăng, kèn Saranai cùng vang lên, đánh nhịp say sưa với những điệu múa và dòng dân ca Chăm làm hấp dẫn và say mê lòng người. Không khí Hội cứ thế mà náo nhiệt, rộn ràng cho đến lúc mặt trời ngã về chiều thì lễ hội Katê trên các tháp Chăm kết thúc.

Lễ hội Katê ở làng

Sau khi lễ Katê ở tháp kết thúc, thì không khí Hội lại bùng lên ở làng Chăm. Trước ngày lễ dân làng phân công nhau quét dọn đền thờ, nhà làng, chuẩn bị sân khấu, sân bãi… Làng xóm như thay da đổi thịt.

Cùng với việc trên, một bộ phận khác chuẩn bị lễ vật cúng thần. Các cô thợ dệt làng Mỹ Nghiệp xem xét kỹ lưỡng khung dệt, tơ sợi, một số khác chuẩn bị Chum (Buk) để dự thi đội nước do dân làng tổ chức.

Buổi sáng ngày lễ, mọi người làm lễ cúng Katê ở Nhà Làng để cầu mong Thần phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt. Tương tự như người Việt, mỗi làng Chăm đều thờ một vị thần riêng (Thần Hoàng). Làng Mỹ Nghiệp thờ thần Pô Riyak, Làng Hữu Đức thờ Pô Klong Halâu… Trong lễ cúng tế thần làng, chủ tế lễ không phải là chức sắc tôn giáo mà thường là chủ làng (Pô Paley) hoặc già làng có uy tín và tinh thông phong tục tập quán. Ông thay mặt dân làng cúng lễ vật cho thần và cầu mong thần phù hộ độ trì dân làng.

Nếu như Katê ở Đền tháp nặng về phần lễ, thì Katê ở làng phần lễ rất đơn giản, còn phần Hội đóng vai trò quan trọng. Làng Mỹ nghiệp phần Hội diễn ra các trò chơi như thi dệt, đội nước, đá bóng, văn nghệ…

Cuộc thi diễn ra trên một sân bãi rộng, các khung cửi đã được xếp thành hàng. Các cô gái dự thi đã chuẩn bị sẵn tơ, sợi, trong hơn một giờ đồng hồ nếu cô nào dệt được một tấm vải dài nhất, đẹp nhất thì sẽ thắng cuộc. Những chiếc thoi đưa hối hả, những sợi chỉ giăng mắc đủ màu tạo nên một nền vải Chăm muôn màu, muôn sắc. ở một địa điểm khác, cuộc thi đội nước diễn ra sôi động. Các cô gái Chăm duyên dáng khéo léo đội chum nước thi nhau về đích với một nét văn hóa độc đáo. Cuộc thi kết thúc, Hội làng tan dần. Mọi người hân hoan trở về mái ấm gia đình để cúng tế gia tiên.

 

Katê ở gia đình

Khi lễ Katê ở làng kết thúc thì lễ Katê gia đình mới được tổ chức. Trong thời gian này gia đình nào có điều kiện thì mới tổ chức, nếu gặp lúc kinh tế khó khăn thì có thể trong dòng họ cử một gia đình để tổ chức, chứ không nhất thiết gia đình nào cũng cúng lễ Katê.

Chủ lễ cúng Katê là người trong gia đình hoặc là người lớn tuổi trong tộc họ. Vào ngày lễ này mọi thành viên trong gia đình đều có mặt đông đủ cầu mong tổ tiên thần linh phù hộ cho con cháu làm ăn phát đạt, tránh rủi ro, gặp nhiều điều may mắn trong cuộc sống. Đây cũng là dịp ông bà, cha mẹ giáo dục cho các thế hệ con cháu nhớ ơn, kính trọng tổ tiên.

Trong dịp lễ này, mỗi gia đình cũng chuẩn bị bánh trái mời họ hàng, bạn bè đến thăm viếng, chúc tụng nhau. Làng Chăm chìm trong niềm vui, thân thiện, tình đoàn kết xóm giềng. Họ thực sự quên đi những vất vả, lo âu của đời thường để tận hưởng những giây phút thăng hoa ngắn ngủi trong cuộc sống còn nhiều khó khăn, bề bộn…

Những bài hát thánh ca của thầy kéo đàn Kanhi chính là linh hồn, là nội dung của lễ hội Katê. Nội dung của bài thánh ca ấy không phải là lời cầu xin thần thánh mà nó chính là nội dung mang tính nhân văn bộc lộ quan niệm về vũ trụ, tình yêu con người và thiên nhiên, lao động – trị thủy – chống hạn, và lòng ngưỡng mộ và tri ân các vị anh hùng văn hóa, anh hùng lịch sử của người Chăm. Qua lễ hội Katê còn có thể thấy được tư duy của người Chăm – một tư duy nông nghiệp luôn mang theo ý niệm phồn thực ( âm – dương, đực- cái…) cầu mong cho sự sinh sôi nảy nở của con người, vật nuôi, cây trồng, cho mùa màng tốt tươi.Tất cả đều mang ước vọng của một cuộc sống thanh bình, êm ả và thịnh vượng.

Nền văn hóa Chăm là nền văn hóa chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Song Katê lại biểu hiện một lối đi riêng của người Chăm trong sự tiếp nhận nền văn hóa này. Những người chủ của lễ hội này, mặc dù có tiếp thu tục thờ thần Siva của Ấn Độ vì họ theo Bàlamôn giáo, nhưng họ vẫn sùng kính, tôn thờ những vị anh hùng dân tộc, biểu hiện có sự tiếp thu văn hóa bên ngoài và cải biến để thành tài sản độc đáo của riêng mình mà lễ hội Katê là một trong những sự biến đổi đó. Đấy chính là cái nền văn hóa nhân bản, pha lẫn vào nền văn hóa nông nghiệp của Chăm, tạo nên một nền văn hóa truyền thống dân tộc, đã trường tồn trước thử thách lịch sử, thời gian. Trong cung cách ứng xử, lễ hội Katê biểu hiện một sức sống mãnh liệt của nền văn hóa bản địa, cộng với sự thâm nhập của văn hóa Đông Nam Á đã làm cho nội dung, diện mạo của lễ hội này độc đáo và mãi mãi trường tồn.”

 

Tại Tp. Hồ Chí Minh

Có thể hiểu là Katê của các sinh viên Chăm tại Sàigòn đứng ra tổ chức đã có những hình thức và nội dung khá phong phú tùy từng thời kỳ và số lượng người tham gia. Từ khi có nhóm sinh viên Cham tại Tp. Hồ Chí Minh sàigòn vào khoảng năm 1975-1976 là họ đã gặp nhau và tổ chức lễ Katê hằng năm bằng hình thức gặp mặt cùng quây quần với nhau tại một địa điểm thuận lợi ôn lại truyền thống, chia sẻ những lo toan của thời sinh viên xa nhà, múa hát và kể cho nhau nghe những chuyện vui buồn. Có những lúc sự họp mặt bị cấm đoán và gây khó khăn thì những sinh viên Chăm thời 79 đã tổ chức lễ Katê tại Sở thú với tấm hình của Lênin bên cạnh để ngụy trang. Dần dần số sinh viên ngày một tăng thì hình thức Katê có thêm những chương trình văn nghệ và thể thao giao lưu giữa các nhóm trường đại học hoặc địa phương khá sôi nổi và sinh động.

Mãi tới khi có Hội Đồng Hương Cham, Katê tp. Hồ Chí Minh được chú ý và tổ chức đàng hoàng và long trong hơn, đó là thời kỳ của nhóm Cửu Chi Tơ, Thành Phần và Phú văn Hẳn. Không những Katê mà các mặt hoạt động khác lieân quan đến đời sống, và học tập của sinhviên cũng rất được quan tâm. Katê tại Tp. Hồ Chí Minh đã được sự tham dự của đông đảo sinh viên Chăm, Khơme và sinh viên sắc tộc vùng Tây Nguyên. Thông qua lễ Katê, Hội kết hợp trao thưởng và tặng quà cho sinh viên để khuyến học, khuyến tài. Chính vì vậy giai đoạn này, Katê được sư quan tâm và hổ trợ kinh phí từ các chính quyền địa phương có các sinh viên là thành viên của hội đồng hương như, Ninh Thuận, Bình Thuận… các trường Đại học, các tổ chức như thành đoàn tp. Hồ Chí Minh, mặt trận tổ quốc…. Một kỳ Katê tiêu biểu trong giai đoạn này mà tôi được may mắn tham dư có thể minh chúng cho sự hoành tráng và long trọng của lễ hộ Katê hằng năm tại tp. Hồ Chí Minh, dù báo chí, hay đài phaùt thanh trong nước không hề có một dòng đưa tin.

Lễ Katê chính thức bắt đầu diễn ra từ 8 giờ sáng một ngày chủ nhật gần với ngày Katê chính thức tại một hội trường lớn của trường đại học sư phạm Tp. Hồ Chí Minh vời sự tham dự của hằng trăm sinh viên chật kín hội trường. Các đại biểu của các tỉnh cũng không vắng mặt năm nào, khiến Ông Cửu Chi Tơ nghẹn lời trong hàng nước mắt xúc động: “Các anh Ninh Phước và Bắc Bình năm năm liền luôn luôn ủng hộ chúng tôi, các anh làm cho chúng tôi mạnh lên và quên hết mệt nhọc…” Các đại biểu của các ban ngành cũng đến ngồi kín hai dãy ghế đầu. Tuy nhiên có một điều buồn nhỏ ñược nhắc nhở trong buổi khai mạc là các anh trong hội đồng hương Chăm tại vắng mặt nhiều quá, dẫu vậy với sự tích cực đặc biệt của anh Cửu Chi Tơ, từ khâu điều hành việc tập dợt văn nghệ, mời và đón các đại biểu, đến huy động tài chánh chuẩn bị quà thưởng cho sinh viên anh đều chu toàn để có ngày Katê trọn vẹn hằng năm cho sinh viên tp. Hồ Chí Minh độc đáo và đầy ý nghĩa.

Sau lời khai mạc đầy thân tình cảm động của ban tổ chức là lời khuyên định hướng lập thân lập nghiệp của các ban ngành, các đại biểu đến từ các địa phương. Đáp từ của ban tổ chức và cảm tưởng của sinh viên mới được tiếp theo liền với quà thưởng cho sinh viên xuất sắc quà lưu niệm cho sinh viên tốt nghiệp và sinh viên mới trong năm. Phần tiếp theo được xem là hấp dẫn nhất văn nghệ múa hát truyền thống do các sinh viên Chăm biểu diễn gợi lại cho người xem các làn điệu nhẹ nhàng trử tình từ quê nhà. Để khép lại chương trình mừng Katê là phần đóng góp của sinh viên Cao nguyên và Khmer với những âm hưởng rất sôi động, đặc sắc và hấp dẫn. Chương trình văn nghệ múa hát mừng Katê của sinh viên dù không có tính chuyên nghiệp nhưng sự nhiệt tình và phong cách biểu diển dữ dội đặc trưng của núi rừng tây nguyên cứ cuốn hút không dứt, rồi chuyển sang điệu nhịp điệu trử tình của Khmer và cuối cùng để thay lời chia tay và hẹn Katê năm tới là mọi người cùng hòa vào múa Lâm thuôl nối kết với nhau đã tạo một ấn tượng khó phai mờ trong lòng người đến dự dù chỉ một lần.Trải qua nhiều năm Katê đã có mặt và luôn hiện hữu bên cạnh những người đồng hương và sinh viên Chăm tp. Hồ Chí Minh. Các em sinh viên nhớ ngày này không chỉ là ngày tưởng nhớ công ơn tiền nhân mà còn là ngày động viên nhau học tập, lập thân lập nghiệp và cùng hướng về quê hương mến yêu.

 

Tại Mỹ

            Những người Chăm ly hương đến định cư tại Hoa Kỳ từ trước cũng nhu sau ngày biến cố lịch sử 1975. Với sự mong nhớ quê hương và cội nguồn da diết họ đã tìm đến với nhau tìm tiếng nói chung để cùng hướng về cội nguồn tổ tiên. Dù trong sự bộn bề công việc thời gian đầu định cư nơi đất khách quê người họ vẫn đã giành thời gian, vượt muôn vàn khó khăn để cùng nhau tổ chức lễ Katê hằng năm rất long trọng và hoành tráng được ghi hình lại trong các băng video hay DVD.

Lần đầu tiên được xem cuốn băng đó nhiều người Chăm ở Việt Nam đã xúc động đến rơi nứơc mắt. Họ không tin vào mắt mình nữa, họ đã thấy lại hình ảnh Katê quê nhà trên đất Mỹ, vừa mừng vừa hãnh diện rằng những điệu múa quạt truyền thống, những làm điệu dân ca mộc mạc di sản của tiên tổ, vẫn được người Chăm thế hệ sinh ra và lớn lên trên mãnh đất mới đầy thử thách đối với văn hóa truyền thống này nâng niu trân trọng.

 

Katê ở Mỹ thường được tổ chức ở một hội trường của một trường đại học, hay đại sảnh có phần sân khấu và phần ngồi cho khán thính giả. Cũng vào ngày thứ Bảy hay Chủ nhật gần với ngày lễ hội Katê chính thức ở Việt Nam. Hầu như mọi người từ các vị cao niên đến những cháu rất nhỏ cùng những vị quan khách ngoại quốc từ khắp nơi trên nước Mỹ tụ tập kín cả hội trường nơi hành lễ Katê, thường diễn ra o tiểu bang California, nơi có đông người Chăm sinh sống. Các quan khách nhiều khi đến từ các tiểu bang rất xa như Hawaii, Seatle hay Canada. Katê tại Hoa Kỳ được các bà con đồng hương Chăm tham dự gồm Chăm Ahier, Chăm Awal, Chăm Islam, và Chăm ở vùng cao, cùng đồng hương Việt Nam. Tôi đã từng tham dự nhiều lễ hội Katê, nhất là tại quê nhà, từ làng này qua làng khác, từ Phan Rang đến Phan Rí, từ Sông lòng Sông đến Malâm, hay tại thành phố Hồ C. Minh, tôi thấy Katê được tổ chức mỗi nơi mỗi vẻ, ngay cả tại Mỹ, qua những tài liệu sinh hoạt và hình ảnh video của Hội Bảo Tồn Văn Hóa Champa, USA. Katê ở đây có một nét riêng của nó. Dù hình thức có khác, mới lạ, nhưng nội dung vẫn là sự nhớ ơn và vinh danh các tiền nhân Champa, những vị đã có công với đất nước, xây dựng hay gìn giữ, hay tạo sự an cư lạc nghiệp, phồn vinh cho con dân Champa trước đây. Lễ đặt vòng hoa lên đài tưởng niệm những vị có công với dân tộc là một điển hình, thứ đến là bài đọc tiểu sử để vinh danh các vị anh hùng của dân tộc, những giây phút tưởng niệm trang nghiêm, kính cẩn, bài hợp ca khik bhùm pasai vang lên như một sự nhắc nhở nhau cho bangsa Champa vẫn là nổi đau của mỗi người, những bài diễn văn nhắc lại thân phận mất nước, và những bài phát biểu kêu gọi sự trở về cội nguồn dân tộc, không quên ơn tiền nhân, bảo lưu văn hóa truyền thống dân tộc, phát huy tình đoàn kết dân tộc, nhắc nhở con cháu biết ơn công lao của các thế hệ cha ông, và không quên quê cha đất tổ cho những người Chăm tham dự và ở quê nhà của các chức sắc trong Hội Bảo Tồn Văn Hóa Champa và các vị trưởng thượng.

Nghi lễ trang trọng của buổi lễ đã đi vào đúng trọng tâm và ý nghĩa của nó. Phần lớn những bà con Champa tại Mỹ là người rất nặng lòng với sự tồn vong của dân tộc. Họ rất quan tâm đến từng lễ hội truyền thống của cộng đồng ở quê nhà và luôn trăn trở tìm phương hướng để phát triển cộng đồng quê nhà trên các mặt từ giáo dục, kinh tế và văn hóa. Dù bộn bề nhiều việc cho sinh kế và hội nhập nơi đất khách quê người, họ vẫn đặc biệt quan tâm và ưu tiên giành trọn thời gian và đóng góp tiền bạc rất hào phóng cho cái gì liên quan đến truyền thống quê nhà. Các tiêt mục văn nghệ được tập dợt công phu kỹ càng trước hằng tháng trời. Từng chi tiết nhỏ được chú ý trao chuốt chuẩn bị, từ cái trống ginăng, kèn saranai, điệu nhạc, cho đến ginrằng đội đầu của các cô vũ nữ Cham và được sự quan tâm hầu như của cả cộng đồng, cả các bậc cha mẹ dù không tham gia trực tiếp vào các vai múa hay hát nhưng cũng quan tâm dành thời gian và vui vẻ đưa đón con em mình đến tập dượt cho đến ngày lễ chính thức. Có lẽ Katê là một trong số những dịp ít oi để những người Champa đồng hương hội tụ, gặp gở nhau sinh hoạt ăn uống những món ăn Chăm và những thức Á châu pha trộn, hàn huyên tâm sự và cảm thông, nên họ thật sự trân quý thời khắc này và thường ghi lại những hình ảnh thành băng đĩa để kỷ niệm và cùng chia sẻ với các cộng đồng Chăm ở nơi khác và nhất là bà con quyến thuộc ở nơi quê nhà.

 Katê quan niệm và triển vọng, thay lời kết

Có nhiều bài báo và trao đổi khẳng định rằng Katê là khát vọng về nguồn, là tiếng lòng của một dân tộc vong quốc, không biết mình là ai, và tại sao hiện hữu nơi này. Đặc biệt trong Forum của trang web Chamyouth.com, nơi các bạn trẻ Cham gởi gắm tâm sự. Như một nhân sĩ Chăm đã bộc bạch, họ đã cùng nhau hiểu rằng: “Đến ngày Katê quy định đó toàn thể nhân dân Champa trên thế giới, trong hay ngoài Việt nam, dù có một người, hai người, hay hơn nữa cũng tụ tập nhau lại trên tháp hay tại một địa điểm nào đó thuận tiện, ôn lại truyền thống nhớ về tổ tiên, cội nguồn. Răn dạy con cái giöõ gìn ngôn ngữ, văn hóa, và bản sắc của mình. Tự tổ chức lễ hội long trọng tùy theo hoàn cảnh có hình thức phù hợp (do người có uy tín của cộng đồng chủ trì như: Ông Achar hay Linh Mục chủ trì cũng đều được) để khẳng định với những người láng giềng, cũng như thế giới rằng “Chúng tôi là những người con Champa lạc loài, đang mong tìm lại anh em, họ hàng, cội nguồn xa cách của mình. Saün sàng khoan dung đùm bọc nhau, dù có thể khác nhau về chính kiến, tôn giáo, địa lý cư trú, quốc tịch hay nhiều nữa, miễn tự nhận mình là Champa thì mọi người đều là anh em, ruột thịt”.

Trong bối cảnh lòch söû tröôùc ñaây, chính phủ Đại Việt đã có nhiều giai đoạn tàn phá, tiêu hủy, đồng hóa những cái gì thuộc về Champa. Đặc biệt là chính sách chia rẽ và đồng hóa tàn bạo và triền miên. Tất cả các dấu vết Champa trên con người chúng ta, trong cộng đồng chúng ta lẽ ra không còn nữa như mong muốn của các vương triều Đại Việt. Vừa may mắn vừa do sức sống của mẫu hệ, nền văn hóa Champa quá đặc sắc, nên dù bị muôn ngàn phong ba bão táp, chúng ta vẫn còn là Champa. Tiền nhân của chúng ta, bậc đàn anh của chúng ta, thế giới khoa học đã làm hết sức mình để chúng ta có được và biết được Champa mình vẫn còn nhiều di sản rất giá trị, văn hóa vật thể như: Đền tháp, bia đá, tượng …, văn hóa phi vật thể: các lễ hội của các cộng đồng thuộc dân tộc Champa như Cham Pangduranga, Ede, Bana, Jarai, Kaho, Chru, Raglai, Stieng… đều có những nét tương đồng, và hội tụ nhất, cô đọng nhất. Một lần nữa tất cả con dân Champa xin kính dâng lời cám ơn tiền nhân đã để lại di sản Lễ hội KATÊ đáng tự hào như thế cho con cháu. Đó chính là sợi chỉ mong manh để con cháu lần tìm đến nhau, ai còn là con dân Champa với những tên gọi khác nhau, Cham Pangduranga, Ede, Bana, Jarai, Kaho, Chru, Raglai, Stieng….

Đã đến lúc không ai có quyền và không thể xóa nhòa đuợc lễ hội KATÊ. Katê nhắc nhở chúng ta nhớ mình đã là những đứa trẻ mồ côi, anh em ruột thịt không biết nhau, người ta đã cướp nhà mình giết hại cha mẹ mình và muốn xóa mọi dấu vết tội lỗi đó. Họ muốn cướp căn nhà của chúng ta mãi mãi, họ muốn anh em chúng ta không nhìn ra nhau, họ muốn chúng ta mãi tị hiềm mất gốc, vong bản mãi mãi, để cha mẹ chúng ta mãi mãi ngậm hờn nơi chín suối. Không! không bao giờ! còn một người Champa là chúng con sẽ tìm lại anh em, giòng họ, và sẽ cùng nhau đòi lại công bằng cho con dân Champa. Chúng ta sẽ cùng nhau làm lại từ đầu, từ KATÊ mong manh.

Mỗi lần Đại Việt lấn xâu vào Champa là người dân Champa phải bỏ xứ chạy lên núi, chạy sang Cambodia, Lào, Indonesia, Malaisia, Hainan và Thailand… khi chạy như vậy, họ bỏ hầu hết những di sản tinh thần vật chất của cha ông dù họ cố muốn giữ. Chỉ có những người nghèo khổ bần cùng, kiên trì còn gắng ở lại Pangduranga và gìn giữ những dấu ấn tinh thần vật chất của tổ tiên Champa mà vật có giá trị tinh thần, nhất mang tầm voùc cho cả dân dộc Champa nhất, hình như chæ có KATÊ trong tay. Để đến ngày nay, các anh em đồng tộc khác ở Cao Nguyên hay nước ngoài hỏi: “anh đang cầm gì trên tay đó, của anh nhặt được của ai hay cha mẹ để lại. Cha mẹ để lại khi nào? sao tôi không biết?”. Chắc chắn, anh không biết, tôi không biết, bởi vì có người muốn xóa dấu vết của một nền văn minh một thời rực rỡ bao trùm cả khu vực Đông Nam Á. Những người con Champa lạc loài Cham Haroi ở Bình Định, Phú Yên, Cham nam bộ ở Đồng Nai, Tây Ninh, Châu Đốc và Tp. Sài Gòn, gặp nhau xúc động không cầm đuợc nước mắt ở Phan Rang dịp KATÊ lần 1 năm 2001, và một lần nữa cũng tại Phan Rang và Hữu Đức năm 2004 lại gặp nhau trong nghẹn ngào, vội vã. Nhờ KATÊ mà những đứa con mồ côi lạc loài tìm thấy nhau trong ngậm ngùi, đắng cay. Người Pangduranga có lẽ là em út dại dột nhất không chạy kịp ra khỏi xứ như những anh em khác. Họ không có cơ hội để nhận những di sản từ người ngoại tộc. Họ đã nâng niu gìn giử KATÊ như báu vật của cha mẹ để lại. Nay đã đến lúc công khai di sản Lễ hội KATÊ ra cho anh em đồng tộc Champa khắp mọi nơi trên thế giới: KATÊ là tài sản chung của Champa. Các tháp Chàm kia không phải là tài sản riêng của Cham và Raglai, các Pô Klaung Garai, Rame, Inư Nưgar… không phải là tài sản riêng của Cham và Raglai, mà là tài sản chung của Champa, của anh Cham ở Campuchia, Của chị Cham Tây Nguyên, của người em Cham lạc loài đã quên tiếng mẹ, quên cội nguồn. Cha mẹ, tổ tiên Champa chúng ta đang nhìn chúng ta ứng xử đúng với di sản quí báu này. KATÊ sẽ là sợi dây tinh thần ràng buộc mọi người con dân Champa không phân biệt tôn giáo, ngôn ngữ, địa lý cư trú, và quốc tịch. Đây là phương tiện, là chứng minh thư để chúng ta, những đứa con lạc loài, nhìn lại anh em, nhận lại thân thuộc, và cũng là để thế giới biết chúng ta là Champa. KATÊ la con đường ngắn nhất để mỗi người con Champa đến với Pô Inư Nưgar, Pô Klonggarai, Pô Romê, anh em Champa Tây Nguyên đến với Pô Yang Prong, đến với các đền tháp bị bỏ hoang đang ngày đêm mong chờ các đứa con Champa khờ dại tìm lại VỀ MỘT CỘI NGUỒN CÁCH XA ấy- Cội nguồn Champa.”

Xin dẫn lời của nhà thơ lớn Cham Inrasara thay lời kết: “Katê từ từ lan xa, lan rộng hơn rồi nghiễm nhiên trở thành ngày lễ được xem là lớn nhất của dân tộc. Từ đó nhà nhà ăn Katê, người người đón Katê. Khấp khởi và cả kiêu hãnh. Mọi người chuẩn bị Katê từ rất sớm.”

Hạ Uy Di, Mùa Katê 2005

Chân thành cám ơn các tác giả của các bài viết về Katê đã được trích đăng trong bài sưu tầm này.

Inrasara, Hành trình Katê.

Một ban đọc Chamyouth, Nguồn gốc  lễ hội Katê.

Nguyễn Gia Kiểng, Tổ quốc ăn năn.

Nguyễn Văn Huy, Tìm hiểu cộng đồng người Champa tại Việt Nam- Thời vàng son và Po Dharma, Góp phần tìm hiểu lịch sử Champa, Champaka 4.

Quang Can, Champa, from

http://www.ling.hawaii.edu/~uhdoc/champa

Thời kỳ xác định bản thể.

Văn Món, Sắc màu của lễ hội Katê Chăm.

 

.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *