ÐƯỜNG VỀ NGUỒN CỘI CHAMPA

(Khái Lươc Về Những Nét Ðặc Trưng)

ÐẮC VĂN KIẾT
Chiêm Quốc về đâu xa rồi thế kỷ!
Cung đàn thương ai ca giọng nỉ non
Ngân dài âm điệu vàng son vàng son …

* Jaya Pak Kraung

Lịch sử nhân loại là một biến chuyển liên tục. Sự sụp đổ hoàn toàn của Vương Quốc Champa vào năm 1832 cho dù bất cứ nguyên nhân nào cũng đều nằm trong qui luật tất yếu của lịch sử: có sinh tồn và có biến đổi.
Tuy nhiên, nếu một dân tộc đã có một lịch sử, cho dù quốc gia đó không còn nữa, lịch sử dân tộc đó vẫn còn hiện diện trong tiến trình của lịch sử nhân loại, và ít ra vẫn còn trong ký ức của dân tộc đó lưu truyền từ đời này sang đời khác và mãi mãi cho đến tận cùng của lịch sử nhân loại.
Nếu một dân tộc đã có một lịch sử, đương nhiên đã có một cội nguồn. Nói đến cội nguồn là nói đến những gì rất xa và cũng rất gần. Rất xa vì cội nguồn đã có từ chốn hồng hoang, từ trong mịt mờ của tiền sử. Rất gần vì cội nguồn luôn luôn có trong tâm tưởng của bất cứ ai còn biết nhớ đến tổ tiên, biết yêu thương những người cùng chung huyết thống của chủng tộc. Nói huyết thống vì người ta có thể thay đổi tư duy, có thể thay đổi hoàn cảnh, có thể thay đổi đức tin, nhưng không thể thay đổi được dòng máu đồng chủng đang luân lưu trong khắp châu thân của mỗi một người.
Nói đến cội nguồn là nói đến những giá trị tinh thần, những giá trị thiêng liêng sau đây:
Ai là thủy tổ của dân tộc Champa? Tổ tiên ta từ đâu đến?
Cội nguồn trong tiến trình lập Quốc an dân.
Cội nguồn trong đời sống văn hóa tinh thần:
Tín ngưỡng và lễ hội dân gian
Ngôn ngữ chữ viết
Niềm tin tôn giáo nguyên thủy
Chế độ mẫu hệ và y phục
Những Tháp Thiêng đền miếu
Văn học dân gian (ca dao Tục ngữ, truyện cổ
Âm nhạc và các điệu múa dân tộc
Tất cả những lãnh vực văn hóa tinh thần nêu trên đã nuôi dưỡng và un đúc dân tộc tính của con người, và biến thành niềm tự hào của dân tộc. Do niềm tự hào này mà người Việt Nam đã thoát được mọi nỗ lực đồng hóa của nhà Hán Trung Hoa trrước đây, cũng như bất cứ dân tộc nào trên thế giới sẽ tránh được sự đồng hóa của dân tộc khác nếu còn biết tự hào về những giá trị tinh thần và những giá trị thiêng liêng của dân tộc họ. Những giá trị trên được lần lượt nêu lên từng phần một sau đây:

AI LÀ THỦY TỔ CỦA DÂN TỘC CHAMPA

Từ trong mịt mờ của tiền sử, khi những thành tựu của khoa học chưa giúp được nhân loại vén lên bức màng thâm u của vũ trụ, chưa giúp được nhân loại hiểu biết về xuất xứ của mình từ đâu mà ra, từ đâu mà đến. Con người thường nêu lên sự hiện hữu của mình trên hành tinh này bằng những truyền thuyết. Mà truyền thuyết là cái bóng của sự thật, được dân gian tưởng tượng và thêu dệt bằng những chi tiết ly kỳ, làm cho truyền thuyết trở nên hoang đường. Do đó trong truyền thuyết có sự hoang đường và cũng có “bóng dáng” của sự thật. Nói đến truyền thuyết của giai thoại, của lịch sử, là nói đến bóng dáng của giai thoại, đến bóng dáng của lịch sử. Giữa lịch sử và truyền thuyết vẫn có liên quan mật thiết với nhau như hình với bóng, và hình nào thì bóng đó. Ví dụ như: dân tộc CHĂM theo chế độ mẫu hệ từ xã hội nguyên thủy cho đến ngày nay vẫn còn. Trong khi đó theo truyền thuyết, người mẹ của xứ sở là Nữ Thần Po Nưgar. Do đó cái hình là chế độ mẫu hệ, còn cái bóng là Nữ Thần Po Inư Nưgar theo truyền thuyết.
Năm 1469 Vua Lê Thánh Tông nhận thức được sự quan hệ mật thiết giữa truyền thuyết và lịch sử, nên đã ra lệnh tìm kiếm “dã sử” và “truyện ký” trong dân gian lưu truyền từ trước đến nay.
Năm 1479, Ngô Sĩ Liên là người đầu tiên tuân lệnh Lê Thánh Tông sử dụng truyền thuyết dân gian để biên soạn: “Ðại Việt Sử – Ký Toàn Thư” (1).
Ðể trình bày câu hỏi: Ai sanh ra tổ tiên Champa và họ từ đâu đến? Thật là vấn đề nan giải, ngoài sự hiểu biết của hậu duệ Champa và của chính tác giả. Nếu Ngô Sĩ Liên đã dựa vào truyền thuyết để viết “Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư”, cũng như hầu hết các tác giả đông Tây kim cổ, khi viết về cội nguồn dân tộc đều phải dựa trên cơ sở truyền thuyết; tác giả bài này cũng không thể đi ra ngoài cái “khuông sáo” đó được, và dựa vào truyền thuyết của dân gian CHĂM, xin được làm một cuộc hành trình phiêu lưu đi vào bóng dáng của cội nguồn dân tộc Champa.
Người Trung Hoa khi nói về cội nguồn của mình, thì họ cho rằng: Ông Bàn Cổ (Pancu) là nhân vật đã tạo nên vũ trụ và sản sinh ra tổ tiên nhân loại trong đó có tổ tiên người Trung Hoa. Trăng sao mặt trời, tinh tú, mây gió, nước lửa, biển, hồ, sông, núi v.v… đều do nhân vật Bàn Cổ hóa pháp làm ra.
Người Do Thái cho rằng: “GOD” là thượng đế đã nặn ra ông ADAM và bà EVA, rồi ADAM và EVA tương giao với nhau để sanh ra tổ tiên loài người, trong đó có dân Do Thái.
Người Nhật Bản tự xưng dân tộc họ là con cháu của Thái Dương Thần nữ (The Sun Goddess).
Người Việt Nam với truyền thuyết cũng khá ly kỳ, cho rằng họ là con Rồng cháu Tiên. Tục truyền rằng: Lạc Long Quân là giống Rồng, Âu Cơ là giống Tiên. Rồng Lạc Long Quân và Tiên Âu Cơ gặp nhau ở Ðộng Ðình Hồ, xứng đôi vừa lứa, rồi tình yêu lên ngôi; nàng Âu Cơ sanh ra một bộc bên trong có một trăm cái trứng, và trứng nở ra một trăm người con (2). Sau này, vì khác giống nên Lạc Long Quân và Âu Cơ không thể sống chung với nhau lâu dài được nên năm mươi con theo mẹ lên non và năm mươi con theo cha xuống biển. Người con cả của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên ngôi vua lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. Ðó là vị Vua Hùng thứ nhất, vị Vua đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
Người Champa quan niệm do TRỜI và ÐẤT là Thủy tổ đã sinh ra tổ tiên của họ. Trời (Dyaus) ở ngôi CHA, mang dương tính ÐẤT (Dyaus) ở ngôi MẸ mang âm tính. Sự tác hợp giữa Trời và Ðất là sự giao hòa khí dương và khí âm đã tạo thành vạn vật và sản sinh ra thủy tổ của dân tộc Champa; Do đó dân tộc Champa chấp nhận thuyết âm dương; sự kiện này cũng phù hợp với biểu tượng Linga (dương tính) và Yoni (âm tính) của Thần Shiva được thờ tại các đền Tháp Champa. Học thuyết âm dương này đời nhà HẠ (3) của Trung Hoa đã chấp nhận và cho rằng: trong vạn vật, âm dương là hai mặt trái ngược nhau, đối lập với nhau; nhưng, khi hai thuộc tính Âm và Dương này tương giao với nhau, dựa vào nhau sẽ hình thành vạn vật. Hệ Từ bên Trung Hoa (4) có nói: “Ðạo càn là Nam (dương tính); Ðạo Khôn là Nữ (âm tính). Càn là cha, khôn là mẹ, không phải là Linga và Yoni đó hai sao?
Ngày xưa khi Thánh Gandhi còn lúc sinh tiền, một ký giả Tây Phương hỏi ngài: Tại sao thờ hai biểu tượng trông kỳ cục đó vậy? Thánh Gandhi đáp: “Khi nhìn hai biểu tượng đó giống như nhìn phụ nữ đang bạch vú hở ra cho con bú vậy thôi”.
Từ thời Thượng cổ, người Hylạp (5) trong ngày lễ đã tổ chức đám rước bộ phận sinh dục của đàn 2ông gọi là Phallus, như là tượng trưng cho sự “Sinh sôi nẩy nở”. Trong nền văn minh cổ Hylạp có môn phái tôn sùng Bộ phận sinh dục của Nam giới, có sáng tác hài kịch “Commodiacomos” có nghĩa là đám rước vui vẻ và được một triết gia lừng danh Tây Phương là Aristote đã biểu lộ sự lý thứ và vui vẻ khi xem xong hài kịch nêu trên.
Ở Ai Cập (5) có thờ Dương tính của Drisis, còn Trung Quốc có Bát Quái trong Kinh Dịch mà “Hào Dương” tượng trưng cho sinh thực khí đàn ông và “Hào Âm” tượng trưng cho sinh thực khí đàn bà. Tất cả những biểu tượng nói trên đều tượng trong cho sự “Sinh sôi nẩy nở”.

TỔ TIÊN CHAMPA TỪ ÐÂU ÐẾN?
Cho đến ngày nay các nhà nghiên cứu khoa học còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc tổ tiên Champa từ đâu đến vùng đất của Vương Quốc cổ Champa tức miền Trung Việt Nam ngày nay.
Có nhà nghiên cứu cho rằng:
Dân tộc Champa đã di cư từ các quần đảo phía Nam Nam Trung Quốc xuống các vùng đảo Ðông Nam Á, đã có một bộ phận rẻ vào vùng đất Vương Quốc Champa cổ tức vùng Nhật Nam từ ngàn xưa và bây giờ là miền Trung Việt Nam; đoàn người rẻ vào đó là tổ tiên Champa.
Có người cho rằng: dân tộc Champa đến vùng đất này từ các hải đảo Ðông Nam Á.
Có những nhà khoa học khác lại cho rằng: nhiều đoàn cư dân từ các vùng đảo phía Nam Trung Quốc di cư xuống đất liền Ðông Dương, rồi từ Ðông Dương lại di cư sang các hải đảo Ðông Nam Á. Tổ tiên Champa chính là cái đuôi của đoàn cư dân nêu trên ở lại Ðông Dương định cư luôn chứ không chịu cùng với đoàn cư dân khác đi sang các hải đảo Ðông Nam Á.
Những quan điểm trên đây của các nhà nghiên cứu cũng chưa soi sáng được rõ ràng tổ tiên Champa từ đâu đến; Tuy nhiên cũng có những công trình nghiên cứu khoa học về khảo cổ, về lịch sử Việt Nam. Sau đây cho thấy tổ tiên Champa là cư dân bản địa ngay từ thời tiền sử:
Ông Stephen Oppenheimer một bác sĩ người Anh, trong công trình nghiên cứu được ghi trong quyển sách” Ðịa đàng ở Ðông Phương” đã khẳng định rằng: Tổ tiên Champa đã có mặt tại dải đất miền Trung Việt Nam ngày nay từ thiên niên kỷ thứ 2 trước công nguyên và có thể là thành phần của hệ thống giao thông đường biển vì có bao lơn nhô ra biển cách đây bốn ngàn năm của thời đại đồ đồng (6).
Công trình thứ hai được nêu lên đây là kết quả sự khai quật của các nhà khảo cổ đã khám phá nền văn hóa Sa huỳnh trên phần đất Vương Quốc Champa cổ đã xác định được tổ tiên Champa là cư dân địa trên vùng đất này ngay từ thời tiền sử. Công trình khai quật này được diễn tiến như sau:
Từ năm 1909 Vinet một viên chức người Pháp tình cờ phát hiện được (tại Ðức Phổ – Quảng Ngãi), tiếp theo đó từ 1923-1951 như Labarre, Henry Parmentier và nhà Nữ Tiền Sử học tất cả là người Pháp lần lượt đến Sa Huỳnh và những địa điểm khác nhau thuộc lãnh địa Vương Quốc Champa cổ trước đây từ Quảng Bình đến Bình Thuận để khai quật khám phá được nhiều mộ Chum khác. Mộ chum hay là kho chum cao chừng 0m,80 làm bằng đất nung, trong kho Chum chứa những dụng cụ cần thiết để làm vườn, phá rẩy, chặt cây, nấu nướng như: nồi đất, rựa v.v… và những vật dụng khác. Sau năm 1951 vì chiến tranh Việt Nam nên công việc khảo cổ bị khựng lại cho đến sau năm 1975 công tác khảo cổ được tiếp tục với người Tây Phương cùng với các nhà khảo cổ Việt Nam trở lại Sa Huỳnh tiếp tục đào bới lớp đất cũ của vùng cư trú Champa cổ và đào ra nhiều kho Chum mới dọc theo ven biển miền Trung với những đồi cát trắng phao nối tiếp nhau trong gió lộng của miền biển cả. Những kho Chum được đào lên chứa nhiều di tích văn hóa Sa Huỳnh với trình độ phát triển khác nhau, được các nhà nghiên cứu khoa cổ học chia thành hai nhóm vào 2 giai đoạn khác nhau:
Thời kỳ Tiền Sa Huỳnh hay là Tiền Champa:
Di tích văn hóa cư ngụ sớm nhất của văn hóa tiền Sa Huỳnh là thời đại đồ đá đồng thao có niên đại cách ngày nay khoản 4 ngàn năm.
Thời kỳ Sa Huỳnh sắt:
Ðây là thời kỳ các dụng cụ mưu sinh được làm bằng sắt như: lưỡi dao, kiếm ngắn, dao quắm, lao, rựa thuổng, xà beng, liều hái, đục v.v… những đồ sắt này là dụng cụ khai phá, chặt, đến tìm kế sinh nhai và có loại còn dùng làm vũ khí như: lao, kiếm, dao v.v…
Văn hóa Sa Huỳnh sắt là văn hóa nối liền với thời kỳ tiền Sa Huỳnh (không sắt), gắn liền với vùng đất mà cư dân đó chính là thần dân của nước Lâm Ấp và chính là cộng đồng dân cư của đất Nhật Nam, nơi Khu Liên đã dấy binh lập quốc đầu tiên với danh xưng Lâm Ấp như đã nói trên.
Cư dân vùng Văn hóa Sa Huỳnh vào thời đó thường dùng khoan, tai hai đầu thú (hình hai đầu con dê), là biểu tượng của văn hóa Sa Huỳnh. Trên địa bàn sinh cư của vùng văn hóa Sa Huỳnh trước đây (tức vùng miền Trung nước Việt bây giờ) đều có nuôi nhiều đàn dê và cho đến ngày nay ta thấy ở các làng CHĂM tại tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuân có nuôi Dê, và trong các lễ cúng giỗ, cúng Yang có dùng thịt Dê để cúng.
Trong các di tích văn hóa Sa Huỳnh, ngoài những kỹ thuật chế tác đồ trang sức bằng thủy tinh hai đầu thú (Dê); những cư dân thuộc vùng Vương Quốc Cổ Champa còn sở trường về công nghệ đồ gốm, mà các nhà khảo cổ học khai quật được trong những mộ Chum ở dưới lòng đất miền Trung VN ngày nay, đều có hình loại làm bằng chất liệu đất sét pha cát hoặc pha tạp với những chất khác thường gọi là Gấu thô màu đỏ nâu, xám đen, có khi vàng nhạt, đỏ nhạt giống như những loại đồ gốm các làng CHĂM ở Hựu An, Phan Lý Chăm Bình Thuận và làng Bàn Trúc, An Phước, Ninh Thuận ngày nay.
Nhiều nhà nghiên cứu cổ học đã cho rằng: khi Khu Liên dựng nước Lâm Ấp (Tiền thân của Champa) ở cuối thế kỷ thứ II (theo sử cũ của Trung Hoa và bia ký Granit tại làng Võ cạnh Nha Trang) chỉ là sự là sự tiếp nối thực trạng văn hóa Sa Huỳnh Tiền Champa.
Những suy luận của nhiều nhà nghiên cứu khoa học nêu trên được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu khoa học hợp lý.
Qua những dữ kiện trình bày sơ lược nêu trên đã giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quát về tiến trình cội nguồn dân tộc Champa trong suốt chiều dài lịch sử thơi: Tiền Sa Huỳnh chưa lập quốc, đến thời đoạn Sa Huỳnh sắt (Lâm Ấp) đến Champa; giai đoạn suy vong sau cùng là dân tộc CHĂM trong cộng đồng Quốc gia Việt Nam ngày nay.
Qua các di tích văn hóa Sa Huỳnh thời tiền Champa tức là thơi đoạn Sơ kỳ Ðồng Thao cách đây bốn ngàn năm như các nhà khảo cổ học tuyên bố nêu trên cùng với nghiên cứu xác đáng của Bác Sĩ Stephen Oppenheimer, tác giả quyển sách “Ðịa đàng ở Ðông Phương” cho chúng ta hiểu biết rằng: Tổ tiên Champa là “Cư Dân Bản Ðịa” tại vùng đất, quê hương và Vương quốc cổ của họ ngay từ thời tiền sử, chứ không phải là dân di cư từ các vùng khác đến.

CỘI NGUỒN TRONG TIẾN TRÌNH LẬP QUỐC:

1/. Theo truyền thuyết:
Như trên đã nói, dân tộc Việt Nam là con cháu Rồng Tiên. Vì Lạc Long Quân là giống Rồng, Âu Cơ là giống Tiên. Sau này Lạc Long Quân và Âu Cơ không tiếp tục chung sống với nhau lâu dài vì hai giống khác nhau, do đó mỗi người đi mỗi ngả; 50 con theo cha, 50 con theo mẹ. Người con trai cả của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên ngôi trị vì đất nước (phía Bắc Hà Nội ngày nay) lấy hiệu là Hùng Vương, tên nước là Văn Lang, mở đường cho công cuộc dựng nước và giữ nước cho dân tộc Việt Nam đến ngày nay.
Ngay đối với người Trung Hoa cũng vậy, khi nhân vật Bàn Cổ dùng thân thể của mình tạo ra vũ trụ và con người, sau đó còn có nhiều nhân vật truyền thuyết khác như Yu Chao (Hữu Sào), Sui Jen (Toạn Nhân), Fu Hsi (Phục Hy) và Shen Nung (Thần Nông) là những nhân vật mà người Trung Hoa cho là tổ tiên của họ; đã có công khai hóa dậy dỗ dân Trung Hoa biết làm ruộng, đánh cá, xây dựng nhà cửa, nuôi gia súc v.v… Tiếp theo đó là những nhân vật truyền thuyết và mang tánh cách dã sử Trung Hoa như Huang Ti (Hoàng Ðế), Yao (Nghiêu) Shun (Thuấn) v.v… mở đầu cho việc vua chúa dựng nước Trung Hoa.
Như vậy đối với dân tộc Champa cũng theo lối mòn truyền thuyết đó, từ ngàn xưa và xưa hơn nữa cũng có nhiều nhân vật xuất hiện trong huyền thoại cũng có công tập hợp lại dân tộc, khai sáng non sông gấm vóc và mở đầu cho giai đoạn lập Quốc và an dân của dân tộc Champa sau này.
Là người CHĂM sinh ra và lớn lên trong lòng dân tộc đã nghe mẹ ru bằng câu ca dao CHĂM từ lúc nằm nôi và trầm mình trong môi trường văn hóa dân tộc, trong tín ngưỡng dân gian CHĂM, được nghe những câu chuyện “bất thành văn” nhưng truyền khẩu từ đời này sang đời khác về việc dựng nước và giữ nước của người xưa v.v… có lẽ dân tộc Chămpa trân trọng nhất là nhân vật truyền thuyết Pô Inư Nưgar một bậc “hiền mẫu” của dân tộc Champa.
Theo truyền thuyết trong dân gian Champa rằng: từ trong chốn hồng hoàng xa thẩm, dân tộc Champa sống rải rác thành nhiều nhóm khác nhau trong cảnh sống tiêu sơ mộc mạc của thời Cổ Ðại. Trên thượng giới có một thần Nữ tuyệt thế giai nhân, có nhiều quyền năng biến hóa đã giáng thế xuống vùng đất dân tộc Champa sinh sống tại núi “Trầm Hương” người CHĂM gọi là “Chơk Ghlâu” tức núi Ðại An Nha Trang tỉnh Khánh Hòa ngày nay. Nữ Thiên Thần này là Pô Inư Nưgar – Tuy là Nữ Thần linh hiển và tài giởi phi phàm nhưng khi giáng trần, Pô Inư Nưgar vẫn hành sử quyền năng theo phương cách thế tục.
Bà ngao du sơn thủy, quan sát toàn vùng dân cư Champa sinh sống. Bà chứng kiến tận mắt cảnh đời kham khổ lầm than của vạn lớp dân Champa, Bà liền gom dân lại thành làng xóm, tổ chức gia đình xã hội theo chế độ mẫu hệ, xây dựng non sông gấm vóc cho dân tộc Chămpa. Bà dạy quần chúng về cách thức trồng lúa, lập hệ thống đê điền tưới tiêu; hướng dẫn cư dân vùng biển đóng ghe đan lưới để hành nghề dánh cá và hòa mình vào biển cả. Dạy dân chúng biết xây dựng nhà cửa, chỉ dạy dùng dược thảo để chữa bệnh và phương cách cúng bái thần linh. Vừa khai hóa dân tộc, xây dựng xã hội, vừa xây dựng một quốc gia nông nghiệp đơn thuần và sơ khai với một xã hội ấm êm, thanh bình bỏ ngỏ giống như thời Nghiêu Thuấn của Trung Hoa.
Vì Bà có công tạo dựng non sông gấm vóc Chămpa, cai quản dân lành với tất cả tình thương của một người mẹ đối với con cái, nên trong truyền thuyết khẩu dân gian Chămpa tôn xưng Pô Inư Nưgar là “Thần mẹ của xứ sở” chứ không tôn xưng Bà là vua Chămpa.
Có một vài tác giả viết truyền thuyết về Pô Inư Nưgar trong vấn đề xây dựng và cai quản đất nước Chămpa chỉ căn cứ vào thực trạng xã hội cận đại của Chămpa gần đây để rồi mô phỏng và xây dựng câu chuyện truyền thuyết xét ra không hợp lý và không đúng với trình tự cội nguồn dân tộc. Các tác giả đó cho rằng: Khi Nữ Thần Pô Inư Nưgar giáng trần cai quản dân tộc Champa có sự phục tá của 03 vị thần:
Pô Yamanư (Nhơn Hoàng) lo lập ra Thánh Tự (Balgnraic) tìm thấy Bà La Môn là Pô Dia và Pô Pasêh để truyền đạo Bà La Môn giáo.
Pô Auloah thì lập ra Thánh Tự Hồi Giáo, tìm thầy hành đạo Hồi là Imưm và Katip hướng dẫn việc hành đạo Islam.
Xây dựng một câu chuyện truyền thuyết với 02 vị Thần như trên hoàn toàn không hợp lý với tiến trình cội nguồn dân tộc Champa; bởi vì theo sử liệu thì khu Liên là vị anh hùng lập Quốc Champa vào cuối thế kỷ thứ II (192 Tây lịch) sau công nguyên. Trong giai đoạn truyền thuyết thời Pô Inư Nưgar, dân tộc Champa sống theo “Tín ngưỡng dân gian bản địa”, chứ chưa hề tiếp nhận Bà La Môn giáo vì đạo Bà La Môn chỉ vào Champa sau khi Khu Liên dựng nghiệp nước. Còn về Po AuLoah lo về đạo Islam lại càng không đúng vì đạo Islam mới phát triển vào thế kỷ thứ VII tại Makkah (8), thuộc nước Ả Rập Sau Di Vùng Trung Ðông bây giờ.
Như trên đã nói vì Pô Inư Nưgar có công khai hóa dân tộc và tạo dựng ra non sông gấm vóc Champa, nên vào thế kỷ thứ IX Vua Harivarruan I đã xây đền tháp và tạc tượng để thờ Bà, đó là Tháp Pô Inư Nưgar, người Việt gọi là Tháp Thần Nữ Thiên Y Ana tọa lạc trên ngọn đồi gần xóm Bóng và biển Nha Trang. Người địa phương gọi xóm Bóng vì xóm này chuyên cung cấp những phụ nữ “múa lễ” mỗi khi có sự cầu an hay cầu xin Nữ Thần linh ban phước lành nào đó trong đời sống của họ, không chừng những nữ “múa lễ múa bóng” này cũng là con cháu của Pô Inư Nưgar? mới dễ nhập hồn như vậy?
Cũng trên đồi này trước đây hồi thế kỷ thứ 7 và thứ 8 có xây 02 cụm Tháp nữa và trong cụm Tháp này có một pho tượng bằng vàng. Năm 774, quân binh Mã Lai quấy nhiễu vùng Kâuthara (Nha Trang) phá hủy ngọn Tháp và cướp đi Tượng vàng quí giá này. Mười năm sau tức vào năm 784 ngôi Tháp bị phá hủy mới được xây lại với pho tượng bằng đá chung quanh các tầng Tháp, ở mỗi gốc tường của Tháp có hình vũ nữ Apsara và bò Thần Nandin.
Những người dân sống chung quanh đồi Tháp rất tin vào sự linh hiển của Nữ Thần Pô Inư Nưgar và thường hay đến cúng bái mỗi khi họ muốn cầu xin những phước lành nào đó về việc làm ăn sinh sống kể cả bệnh tật ốm đau.
Ngoài quần thể Tháp Pô Inư Nưgar (Tháp Bà) Nha Trang, tại một số địa phương khác cũng lập những miếu thờ Nữ Thần như các thôn Hữu Ðức ở Huyện Ninh Phước, Thôn Bình Nghĩa thuộc Huyện Ninh Hải tỉnh Ninh Thuận. Tại Bình Thuận có Thôn Lạc Trị thuộc Huyện Tuy Phong, thôn Quản Mía thuộc huyện Bắc Bình; ngoài ra người ta còn thấy một số chùa người Hoa Kiều tại các địa phương thuộc hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận có thờ Thần Nữ Thiên Y A Na tức Pô Inư Nưgar Champa. Sự việc người Hoa Kiều thờ phượng Nữ Thần này có lẽ Bà ta có linh hiển hoặc cũng có truyền thuyết nói rằng Bà ta có kết duyên với Hoàng Thái Tử nước Trung Hoa.
Ðối với truyền thuyết về tổ tiên Chămpa do đâu mà ra, cũng như truyền thuyết về ai có công khai hóa dân tộc và khai sáng ra đất nước Chămpa tuy không phải là câu chuyện hoàn toàn có thật, không có chứng cứ khoa học làm nền tảng, nhưng nó là bóng dáng của trình tự lịch sử dân tộc Champa, là chất xúc tác làm cho mọi người đồng chủng quây quần về nguồn cội tổ tiên, nó đem lại sự hợp nhất giữa tiền nhân và muôn ngàn thế hệ cùng màu da thớ thịt nối tiếp, nó đem lại tính tự hào dân tộc làm cho con cháu quây về một mối.
Trên đất nước Champa cổ trước đây đã xẩy ra nhiều cuộc chiến khốc liệt; khi trường kỳ, lúc đoản kỳ, có khi chớp nhoáng với Trung Hoa, Ðại Việt, Châu Lạp, Java (Nam Dương), Mông Cổ, nhất là những cuộc chiến đoàn kỳ giữa Tàu và Champa vào năm 605 đoàn quân viễn chinh Trung Hoa, dưới sự Tổng chỉ huy của Tướng Lưu Khương sang xâm chiếm Champa đánh phá Khú Túc (vùng Thừa Thiên) và Kinh Thành Trà Kiệu (Quảng Nam), tàn phá kinh thành cướp bốc tài sản và thiêu hủy tất cả những tài liệu chính sử từ ngày đầu lập quốc và những cuộc chiến kế tiếp với các quốc gia nêu trên đã tiến những trung tâm văn khố và sử liệu Champa thành những đóng tro tàn.
Do đó muốn tìm hiểu tiến trình lập quốc Champa từ cội nguồn cho đến ngày sung vong, các nhà nghiên cứu khoa học phải bằng vào những sử liệu thành văn của một số quốc gia lân cận có liên quan với Champa trước đây như Trung Hoa, Ấn Ðộ, Ðại Việt, Châu Lạp và những thành tựu khoa học về ngành ngôn ngữ học, về khoa cổ học để soi sáng.
2- Theo sử liệu Trung Hoa:
Theo sách Thủy kinh chú, vào cuối thời Hậu Hán (190-193) sau công nguyên, người Trung Hoa thường nói đến một dân tộc ở huyện Tượng Lâm về phía Nam của Nam Việt mà người Tàu gọi là người “Man” thường nổi lên đấu tranh chống lại sự tàn bạo của chế độ phong kiến nhà Hán. Sau một thế kỷ liên tục nổi dậy, cộng đồng dân cư ở huyện Tượng Lâm này tuyên bố độc lập và khai sáng ra đất nước Lâm Ấp do Khu Liên làm thủ lãnh và xưng vương. Tên nước Lâm Ấp là tiền thân của Champa sau này. Ðây là giai đoạn đầu lập quốc; còn sau này khi đất nước Champa được tổ chức quy củ rồi, giữa Trung Hoa và Champa cũng có giai đoạn bang giao tốt đẹp, cũng có lúc Champa phải triều cống, có lúc chiến tranh khốc liệt giữa hai quốc gia vì tham vọng thôn tính của Trung Hoa.
3- Theo khoa khảo cổ học:
Nhà nghiên cứu khoa học người Pháp Etienne Aymorier vào năm 1885 đã khai quật dưới lòng đất tại làng Võ cạnh Nha Trang khám phá ra một văn bia (khắc chữ trên phiến đá Granit) bằng Phạm ngữ (Snskrit) có niên đại vào cuối thế kỷ thứ II sau công nguyên. Trên văn bia ấy có ghi rõ công trạng của một vị vua Sri-Mara, người đã khai sáng ra một triều đại Vương Quốc Champa đầu tiên. Ðối chiếu với sách Thủy Kinh chú Trung Hoa đã nói ở đoạn trên, ta thấy sử liệu của Trung Hoa và bia ký đã khai quật được hoàn toàn giống nhau về không gian và thời gian lập quốc. Nhân vật Sri-Mara có thể chính là Khu Liên.
Trên văn bia Phạm ngữ của SambhuVarman (Phạm Phàn Chí) vào thế kỷ thứ XI có khắc tên một quốc gia cổ mà trong sách Tân đường Thư có đề cập đến Âu Dương Tu – Tổng kỳ đã phiên âm ra Hán ngữ là Chiêm Bà tức nước Lâm Ấp ngày xưa.
4- Theo ngôn ngữ học:
Các nhà khoa học Tây Phương nghiên cứu về cội nguồn dân tộc Champa theo phương diện ngôn ngữ học, đã xếp loại dân tộc này thuộc nhóm gia đình ngữ học Mã Lai đa đảo (Malayo – Polynesian) hay có một danh xưng khác gọi là nhóm gia đình ngôn ngữ Nam đảo (Austronesian). Nhóm ngữ hệ Mã Lai Ða đảo bao gồm mấy trăm ngôn ngữ tập trung trong một khoản không gian rộng lớn bao gồm các ngôn ngữ lục địa Ðông Nam Á – Mã Lai và Champa, toàn bộ ngôn ngữ Phi Luật Tân và cả các ngôn ngữ của Madagascar ngoài khơi Châu Phi (7).
Vì cùng nhóm với ngữ hệ Nam đảo (Austronesian) nên ngôn ngữ Mã Lai và ngôn ngữ Champa có nhiều tiếng rất tương đồng với nhau và nhất là đã có một quá trình giao lưu văn hóa và bang giao lịch sử trước đây khi Champa chưa mất tên trên địa bàn sinh hoạt chính trị Ðông Dương.
Trên lãnh địa của Vương Quốc Champa cổ, tức miền Trung của Việt Nam ngày nay, tiếng CHĂM và các sắc tộc Hroi, Raglai, Churu, Jarai Radhé, Banar, Stieng v.v… thuộc hệ ngữ Nam đảo hay là Mã Lai Ða đảo (Malayo – Polynesian) và được khoa ngôn ngữ học gọi chung là nhánh ngôn ngữ CHĂM (The Chamic Langreceges). Trong nhánh ngôn ngữ này lại chia thành hai nhánh:
Nhánh thứ nhất gồm ngôn ngữ Chăm, Hroi, Raglai, Churu thành một nhánh phía Nam Champa.
Nhánh thứ hai gồm Radhé, Jarai, Banar, Koho là nhánh phía Bắc thuộc lãnh địa Chămpa.
Sự phân chia ngữ hệ Nam đảo của các sắc tộc tại Champa thành hai dòng Nam Bắc này, cho chúng ta thấy phù hợp với truyền thuyết về nguồn gốc hình thành quốc gia Champa từ hai thị tộc khác nhau:
Thị tộc Nam còn gọi là dòng CAU (Pinăng), người CHĂM gọi là “Tâu Thih”; trong bia ký Phạn ngữ ghi là Kramuka Vams’a.
Thị tộc Bắc còn gọi là dòng Dừa (Liu), người CHĂM gọi là “Tâu Chơk”, trong bia ký Phạn ngữ ghi: Narikela Vams’a.
Hai thị tộc Bắc Nam, người CHĂM gọi là “Tâu Chơk” và Tâu Thih ngày nay người ta còn tìm thấy xuất hiện trong lễ hội múa lớn gọi là “Rija” Praung” của người CHĂM ngày nay.
Qua những sự kiện nêu trên, khoa Ngôn ngữ học đã gợi mở cho ta thấy côi nguồn lập quốc Champa khởi đầu, gồm hai thị Tộc trấn thủ 2 vùng khác nhau bất hòa với nhau trước khi đem đến một quốc gia Champa Thống Nhất và ổn định.

5- Cơ cấu tổ chức quốc gia

Danh xưng quốc gia:
Theo sử liệu Trung Hoa, danh xưng nước Champa có nhiều thay đổi như sau:
Lúc đầu người Trung Hoa gọi nước Champa là Lâm Ấp hay Lin-Yi.
Ðến năm 758 T.L, Trung Hoa gọi Lâm Ấp là Hoàn Vương.
Ðến năm 877 T.L, Trung Hoa còn gọi Champa là Chiêm Ba, Chiêm Tư, Chiêm Phù Lao và sau cùng là Chiêm Thành cho tới bây giờ.
Tuy nhiên, những danh xưng nêu trên là do người Trung Hoa gọi; đối với dân tộc Champa thì chỉ có danh xưng CHAMPA là quốc hồn quốc túy của dân tộc, bằng chứng cụ thể là trong những tấm bia ký (văn bia) còn lưu lại ở khu Thánh địa Mỹ Sơn (Quãng Nam) cho thấy vua Champa tên là SambhuVarman qua đời năm 629 T.L, trước đó đã thỉnh cầu Sambhadrecvara ban cấp sự “Diễm Phúc” cho nước CHAMPA chứ không nói cho nước Lâm Ấp, Lin-yi hay Hoan vương. Sau đó cũng qua bia ký khác ở Mỹ Sơn quần thể có một vị vua khác là Vikratavarman I đã tự xưng là “Vua vĩ đại, chúa Thượng của Sri Champapura”, chứ không hề sử dụng danh xưng nước theo như cách gọi của Trung Hoa.

CƠ CẤU TRIỀU ÐÌNH:
Vua (Pa-Tao) đứng đầu quốc gia, có quyền hành tuyệt đối về mọi mặt. Nhà vua được sự phụ giúp các sứ Thần ngoại giao trong chánh sách đối ngoại phần lớn với các nước. Trung Hoa, Ðại Việt, Nam Dương, Mã Lai, Chân Lạp, Phù Nam; ngoài ra có các triều thần đủ lãnh vực an ninh, kinh tế, chánh trị, quân sự v.v… để phụ giúp nhà vua điều hành đất nước. Bộ máy chính quyền Trung ương được đặt dưới quyền lực của 2 vị Ðại thần và các phụ tá đặc trách mỗi lãnh vực khác nhau.
Nhà Vua Champa được bảo bộc và góp sức bởi các giới tăng lữ Bà La Môn, các nhà Chiêm tinh, phong thủy nổi tiếng, các triều thần, các bộ thị vệ an ninh. Các đội phòng vệ Hoàng gia, các cung phòng đặc trách ghi lễ khánh tiết và đặt biệt các vị triều thần tài cán chuyên lo trị nước an dân.

Tổ chức guồng máy Quốc Gia:
Ðất nước được chia thành 4 vùng:
Amaravati: ở phía Bắc Champa từ Quảng Bình đất Quảng Nam Ðà Nẵng bây giờ.
Vijaya: Thuộc Quãng Ngãi, Bình Ðịnh bây giờ.
Khâuthara: Thuộc Ninh Thuận và Bình Thuận.
Bốn vùng của đất nước Champa được trải dài dọc theo miền duyên hải, một bên là biển cả, một bên là núi rừng trường sơn thâm u và trập trùng; ở giữa núi rừng và biển cả là một dải đất hẹp nên sông ngòi ngắn và không rộng, mỗi mùa mưa thường gây lũ lụt và vì không có đồng bằng rộng không có nhiều hồ chứa nước, nên nước mưa đã trút hết xuống biển cả và thường bị thiếu nước và hạn hán khi mùa nắng ráo.
Mỗi vùng có các lãnh chúa trông coi, có tác giả còn gọi là các tiểu vương. Trong các lãnh chúa vùng có một số mặt có vẻ độc lập với trung ương như về mặt dân sinh, tôn giáo, xã hội giáo dục nhưng vấn đề ngoại giao, quốc phòng và tài chánh ngân khố vẫn thống thuộc nhà vua ở Trung ương.
Ba bia ký tại làng Võ Cạnh, Hòn Cúc, Mỹ Sơn có ghi danh hiệu của vua Bhadravarman tại đền Tháp trên toàn lãnh thổ Champa, sự kiện này theo Louis. Finot đã chứng tỏ Champa là một quốc gia độc lập và thống nhất quyền năng của nhà vua Trung ương, các Lãnh chúa hay Tiểu vương của mỗi vùng đều phải khép mình dưới quyền lực nhà vua.
Theo sử liệu kinh đô đầu tiên của Champa là Trà Kiệu. Còn Khu – Túc chỉ là một thành lũy mới xây có tánh cách Quốc Phòng khi KHU – LIÊN vừa mới dựng nước.
Năm 758-859 kinh đô mới là Virapura
Năm 875-991 có lẽ vì Ðại Việt có những hoạt động quân sự gần gũi với biên giới Champa, nên vua Indravarman II mới dời đô về Vijaya ở Bình Ðịnh để được yên ổn hơn.
Ðến triều vua Harivarman IV (1074-1081) đặt Kinh Ðô tại kinh thành Champapura. Có lẽ lúc này ở Vijaya Bình Ðịnh chỉ là thành quách Quốc Phòng kiên cố để ngăn quân Ðại Việt, còn Kinh Ðô đã dời về Champapura.
Sau khi thành Ðồ Bàn thất thủ 1471, kinh đô Champa dời về Virapura của Châu Panduraga tức vùng Phan Rang ngày nay.
Về quốc phòng: Theo sử liệu Trung Hoa, Champa thời đó có khoản 40,000 quân đến 50 ngàn quân thời Phạm Văn khoản thế kỷ IV.
Năm 1360 thời vua Chế Bồng Nga với những chiến công hiển hách, làm cho vua quan nhà Trần phải bỏ cả thành Thăng Long (tức Hà Nội bây giờ) mà chạy, chứng tỏ Champa đã có một lực lượng quân sự hùng hậu và tinh nhuệ. Lực lượng quân đội gồm có: Bộ Binh, Hải Binh, Kỵ Binh và Tượng Binh (qua điêu khắc tại đền Tháp thuộc quần thể Mỹ Sơn) đã thấy rõ phần nào về khả năng quân sự của Champa.

CỘI NGUỒN TRONG ÐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA DÂN TỘC CHAMPA

“Những con người đích thực tiến bộ bao giờ cũng
lấy khởi điểm từ lòng sùng bái sâm đậm
đối với quá khứ”

ERNEST RENAN
(Nhà sử học PHÁP QUỐC)

I. TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN:

Khi khoa học đã đem lại cho nhân loại những tiện nghi vật chất tốt đẹp nhất, thì sự tín ngưỡng trở thành mê tín. Thật ra khoa học cũng chỉ là một loại tín ngưỡng nhưng tín ngưỡng có chứng minh, có bản chất lý tính. Còn nếu phải thừa nhận một sự thật không thể chứng minh được thì sự thừa nhận đó được dựa trên tín ngưỡng, loại tín ngưỡng này không có bản chất lý tính và phải mặc nhiên chấp nhận.
Aristote cho rằng: “Công lý là nguyên lý thứ 1 không thể chứng minh được. Tất cả khoa học có tính chứng minh đều bắt nguồn từ nguyên lý thứ 1 của nó”. Cái phải tự thừa nhận mà không thể chứng minh được chính là dựa trên tín ngưỡng”.
Tử Tư, môn đệ của Khổng Tử, trong sách Trung Dung có nói: “Quyền phép của Quỷ Thần rất lớn, mắt chúng ta không thấy được, tai chúng ta không nghe được Quỉ thần; Tuy nhiên Quỉ thần ở trong mọi vật và không thể lìa khỏi các vật được (7). Quan điểm của Tử Tư cũng là loại Tín Ngưỡng không có lý tính và phải mặc nhiên thừa nhận.
Cùng với quan điểm nêu trên, theo đời sống tâm linh và tín ngưỡng của dân tộc Champa thì Thần Linh và Quỉ Thần có mặt khắp trong vũ trụ và ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt con người trong cuộc sống. Thần linh có quyền năng ban phước, bảo bộc, che chở đối với con người làm điều thiện, và thần linh cũng có quyền năng trừng phạt những kẻ gian tà ác độc. Sự tín ngưỡng này đã ảnh hưởng sâu đậm và chỉ đạo mọi tư tưởng, hành động của dân tộc Champa ngay từ cội nguồn của xã hội nguyên thủy và là cái khung cốt cho nền văn hóa tinh thần của dân tộc này đồng thời qua nền văn hóa tinh thần đó đã kiến tạo cho dân tộc Champa có một bản chất lương thiện làm lành lánh dữ. Như vậy, khi có người viết lịch sử cho dân tộc Champa là “hiếu chiến” và “cướp biển” thì quả thật là chủ quan và hồ đồ! Vì nó không đúng với nhân sinh quan của dân tộc Champa.
Trở lại vấn đề tín ngưỡng và lễ hội dân gian Champa ta thấy đây là loại tín ngưỡng mang tính đa dạng qua nhiều hình thức khác nhau như: Thờ cúng tổ tiên có tính cách gia đình và giòng tộc, ngoai ra còn có những tín ngưỡng liên quan tới sản xuất nông nghiệp từng gia đình rồi dần dần nhiều gia đình họp lại thành tín ngưỡng chung của cộng đồng làng xóm hay gọi là lễ hội dân gian. Lễ hội này là một tín ngưỡng đa thần bao trùm toàn bộ sinh hoạt của dân cư Champa trong đời sống văn minh nông nghiệp.
Trong phần mục tín ngưỡng và lễ hội dân gian này xin được lần lượt nêu lên những điểm đặc trưng khái quát sao đây:

Tín ngưỡng liên quan đến việc thờ cúng tổ tiên giòng họ:

Trong đời sống văn hóa tinh thần, gia tộc và giòng họ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội Champa bởi vì gia đình, giòng tộc là nền tảng xã hội. Những tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giòng họ như:
Lễ Mbăng – Katê: tín ngưỡng này vừa là gia đình vừa là lễ hội phần lễ hội sẽ nói sau ở phần lễ hội dân gian ở đây chỉ nói đến lễ cúng tổ tiên giòng họ. Lễ cúng tổ tiên ở đây là bao gồm cả ông bà cha mẹ vừa khuất bóng trần gian, những người đã dày công kiến tạo gia đình, giòng họ tổ tiên. Phận làm con cháu phải hết lòng biết ơn và hiếu thảo đối với những người đã sinh ra ta. Từ trong cội nguồn, ngay từ lúc bản sơ, dân tộc Champa luôn luôn gắn liền lòng dạ sắt son hiếu thảo cửa mình đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Ðây là vấn đề nhân bản; một người Chăm dù nghèo khổ lam lũ, tối tăm đến đâu cũng luôn luôn báo đền hiếu đạo này. Cho dù bất cứ lý do gì của một người CHĂM nào đó chối bỏ tình cảm thiêng liêng cao cả này, cũng đều là một điều đáng tiếc nếu không muốn nói đã thay đổi bản thể nhân sinh quan cội nguồn của dân tộc. Lễ cúng Mbăng – Katê cho tổ tiên này mỗi năm một lần cùng với thời gian lễ hội dân gian Mbăng – Katê cộng đồng và khi cúng lễ Mbăng – Katê trong gia đình người ta chỉ van vái đến tổ tiên ông bà cha mẹ trong gia đình riêng tư của họ mà thôi.
Lễ Rija Harei (Lễ múa ban ngày), Rija Dayuap (Lễ múa ban đêm) và Rija Pruang (lễ múa lớn); cúng giỗ nhập “Kút” (giống như nghĩa trang) giòng họ, và ma chay, đình đám. Ngoài ra trong gia đình và giòng họ còn có một “CHIẾT – ATÂU” chung, đựng Y trang của tổ tiên (Potrauk-patra) dùng để cho Muk-Rija (vũ sư) của giòng tộc mặc để thực hiện lễ múa. Mục đích lễ Rija Harei, lễ Rija Dayuap, Rija Pruang nhằm mục đích van vái khẩn cầu tổ tiên (Potrauk-Patra) ban phước lành, che chở khi có cảnh tai ương khốn khổ, hoặc cầu xin một phước lành nào đó.
Lễ cúng tế thần linh cả tộc họ như lễ Puis, lễ Payak, lễ Tế Trâu:
Lễ Puis: Lễ nghi tộc họ cúng trả lễ và thiết đãi thần linh (Jiu Muk Key). Lễ này thực hiện theo định kỳ 01 năm, ba năm hoặc bảy năm một lần khi được mùa và gia đình con cháu sung túc an vui.
Lễ Paryak cũng giống như lễ Puis nhưng lễ Payak chủ yếu cúng vị Thần tổ tiê (Yang Disang).
Lễ cúng Tế trâu tộc họ: Từ xa xưa và xưa hơn nữa, người Champa còn có lễ Tế Trâu (Kabaw Akadang Kun Salao) để hiến lễ thần linh cứ 07 năm một lần do một tộc họ thực hiện tại một cái Rạp (Kajang mưtưh buah) gần bờ sông hay gần chân núi Pô Klaung Giarai vùng Phan Rang). Con trâu cúng tế này được nướng nguyên con.
Tóm lại, lễ cúng tế trâu, cũng giống như lễ Puis, lễ Payak của tộc họ. Các loại tín ngưỡng này là tín ngưỡng bản địa dân gian tức là văn hóa bản địa ban sơ trong thời kỳ săn bắn hái lượm và khởi đầu đi vào sản xuất nông nghiệp cổ sơ. Các thầy cúng là những chức sắc đạo giáo gọi là “ôn kadhar và Muk-Pajau” chứ không có tu sĩ” Paseh và Achar vì giai đoạn này dân tộc Champa chưa ảnh hưởng Bà La Môn hay Hồi giáo. Các lễ cúng này cũng có điệu múa dân giao nhưng với động tác đơn giản của Muk-Pajar, với nhịp gõ bằng gỗ, chiêu trống và cả tiếng vỗ tay . .. là nền tảng nguyên thủy khởi đầu cho những nghệ thuật phong phú trong các điệu múa dân gian về sau.

LỄ HỘI DÂN GIAN:

Trong xã hội nguyên thủy khi chưa lập quốc cũng như sau này trong giai đoạn ban sơ lập quốc, hệ thống thần quyền (tôn giáo) chưa du nhập vào các nước Ðông Nam Á, trong đó có nước Champa. Tất cả đức tin tinh thần của con người đều phát xuất từ tín ngưỡng dân gian bản địa khi chưa có sự xuất hiện của tôn giáo. Các tín ngưỡng ấy như đã nói ở trên gần cả sự cúng tế ông bà tổ tiên, cúng đế tiền nhân của dân tộc cũng như cúng tế thần linh liên quan đến sản xuất nông nghiệp; Trải qua một quá trình hưng vong của dân tộc, các tín ngưỡng nêu trên dần dà biến thành những ngày lễ hội, cộng đồng hay là lễ hội dân tộc được thực hiện theo nghi thức cổ xưa trên nền tảng sơ khai của nền văn minh nông nghiệp, gắn bó với chu kỳ thời tiết thiên nhiên của đất trời. Vì vậy các lễ hội đều bắt đầu từ lúc trời chuyển mùa từ khô ráo sang mùa mưa, hay bắt đầu vụ mùa canh tác, hoặc sau mùa thu hoạch. Mục đích lễ hội để “tống khứ những tai ương thất bại năm cũ, xin được phước lành hơn trong năm tới và để vui chơi thụ hưởng sau mùa thu hoạch.
Mục đích của lễ hội còn là để tạ ơn trời đất, thần linh đã ban mưa thuận gió hòa, canh tác tốt, thu hoạch cao, xóm thôn no ấm vang tiếng cười trẻ thơ. Cũng phát xuất từ tâm hiếu thảo, thuận hòa, lễ hội cũng là dịp duy nhất trong năm để tưởng nhớ đến các bậc tiền hiền khai quốc, các bậc anh hùng dân tộc, các bậc tiền nhân, tổ tiên, ông bà và cha mẹ đã khuất bóng.
Trừ những thành phần đã bị đồng hóa vì nguyên nhân sụp đổ của lịch sử dân tộc và cũng có thành phần khi thay đổi đức tin lại tự mình hòa nhập vào văn hóa ngoại lai khác; văn hóa truyền thống mang tính cội nguồn dân tộc Champa đến nay vẫn không thay đổi. Ông bà cha mẹ sống ra sao, con cháu sống nối tiếp như vậy và cứ đều đều như thế từ đời này sang đời khác giống như một hạt giống nẩy mầm rồi sinh trưởng, rồi tàn tạ theo đúng chu kỳ sinh tử của thiên nhiên một cách hòa bình êm ấm trong tâm tư của mỗi con người dân tộc Champa.
Do đó từ trong cội nguồn mờ mịt đến nay biết bao vật đổi sao dời, bao nhiêu nương dâu xanh tốt lại biến thành bãi biển (tang điền biến vi thương hải), biết bao đổi dời của nhân thế. nước nhỏ biến thành nước lớn; đất nước huy hoàng bị xóa tên trên bản đồ thế giới để cả một dân tộc hiền hòa đang sống an bình trong khiêm nhường co cụm nhưng rồi những ngọn sóng thần lấp biển dời non kia đã xô đẩy họ sống trong bóng tối miên trường xót xa. Tuy thế văn hóa tinh thần cội nguồn Champa vẫn còn được hợp hậu duệ của đất Panduranga cũ ôn trọn vào lòng như để nhớ để thương, để giữ mãi bản sắc dân tộc, của bóng dáng cha ông, của nòi giống Champa xưa cũ và mãi mãi ngàn sau đây là những lễ hội dân gian tiêu biểu cho văn hóa cội nguồn được lưu truyền trong dân gian Champa đến ngày nay:

Rija Nưgar:
Ðây là lễ cầu xin Thần mẹ xứ xở Pô Inư Nưgar và các thần linh khác vào dịp đầu năm mới, tổ chức vào ngày thứ năm và thứ sáu tuần lễ đầu của tháng giêng theo lịch CHĂM (dùng âm lịch để xác định thời gian).
Diễn tiến lễ hội được tổ chức như sau:
Buổi sáng sớm ngày đầu tiên của cuộc lễ, tất cả gia đình trong làng đem thực phẩm đến ban tổ chức hội làng để đóng góp cho việc làm lễ Hội nhưng ai cũng thấy vui nhộn hơn nhưng ngày khác. Làng trên xóm dưới trên mọi ngã đường làng đều có vẻ tấp nập hơn với kẻ qua người lại, áo quần sạch sẽ tươm tất hơn mọi ngày khác, đổ dồn về địa điểm ở đầu làng nơi dựng rạp (Kajang) để hành lễ; Rạp được dựng lên theo hướng đông tây. Lễ vật trong Rija Nưgar ngày đầu (thứ năm) gồm một cặp gà, 10 trứng vịt, năm mâu cơm, canh, xôi, chuối, trầu cao, ruợu . . . Sang ngày hôm sau (thứ sáu, lễ vật như ngày đầu, nhưng cặp gà được thay thế bằng con dê. Chủ trì buổi lễ do Ôn Duôn Gru (thầy vỗ cả) cùng với Ôn Ing (vũ sư) phụ lễ, với sự tham gia đông đảo của các vị chức sắc tôn giáo cũng như các vị chức vụ hành chánh trong làng cùng với bà con lớn nhỏ trong làng. Các bài hát kể lại sự tích các vị thần và cầu xin sự phù hộ cho dân làng và những lời dâng lễ vật cúng tế lên các vị thần. Ôn Ing mặc áo đỏ, đầu chút khăn đỏ vừa múa vừa lấy chân đạp dặp tắt đống lửa do dân làng chuẩn bị sẵn. Gần cuối cuộc lễ điệu nhạc với trống Ginăng, và Paranưng càng sôi động hẳn lên và tiếng kèn Saranai thật lãnh lót cùng nhịp điệu múa như để tiễn cựu nghinh tân trong năm mới diễn ra cho đến khuya. Sáng hôm sau cuộc lễ tiếp tục như ngày trước và kéo dài đến trưa. Sau khi khấn vái và cầu xin nữ Thần khai Quốc Pô Inư Nưgar đem lại điểm tốt lành trong năm mới: dân làng bình yên, làm ăn được mùa, mưa thuận gió hòa v.v. . . Cuộc lễ hội Rija Nưgar hằng năm chấm dứt vào khoản trưa cùng ngày, mọi người trong làng giải tán ra về trong niềm tin và hy vọng.

Pơh Mbăng Yang:
Ðây là lễ cúng đầu năm vào ngày thứ ba của tuần lễ đầu tiên của tháng giêng (lịch Chăm) tại các đền Tháp Champa, có mục đích xin phép Thần linh để dân làng được đắp đập, khai mương, chuẩn bị cho vụ mùa sản xuất năm mới; đồng thời lễ cúng cũng khấn vái cầu xin Thần linh ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng năm mới được đơm hoa kết trái tốt tươi cho dân làng được sung túc. Lễ vật gồm một con Dê, năm mâm cơm, một khây trầu rượu được đưa vào đền thắp cùng với vật thiêng là Ngẫu Tượng Linga làm bằng gỗ TRẦM. Trong khi ca nhẩy múa ông “Hamu Ia” người phụ trách hành lễ nhảy múa với Ngẫu Tượng linhga biểu hiện cho sự tương giao tượng trưng cho sự sinh sôi nẩy nở. Linga này là vật thiêng được thờ trong lăng thờ Nữ Thần Pô Inư Nưgar, điều này càng chứng tỏ Pô Inư Nưgar đúng là Thần mẹ của xử sở như truyền thuyết đã nêu rõ.
Yôr Yang và Plao Pasah (lễ cầu đảo):
Cả hai lễ hội cộng đồng này đều có mục đích giống nhau là cầu mưa nhưng thực hiện tại hai điểm khác nhau và thời gian cũng khác nhau.
Lễ Yôr Yang cầu mưa tại đền Tháp còn gọi là lễ hạ điền vì lễ này tổ chức vào tháng 02 Chăm lịch, đây là thời gian mà các sao trên trời như sao Thần Nông, sao cày xuất hiện làm giảm sức nóng của các sao khác, do đó khi bắt đầu gieo giống, lúa con mọc lên không bị thiêu hủy.
Lễ Plao Pasah cũng mục đích như trên nhưng làm tại cửa biển và khi nào trời thật sự hạn háng thì làm lễ Plao Pasah để cầu mưa.

Mbăng Katê
Ðây là lễ hội dân gian quan trọng nhất của dân tộc Champa, phát xuất từ tín ngưỡng bản địa khi còn ở xã hội sơ khai, lúc ấy văn minh Ấn Ðộ và văn minh Trung Hoa mà các nhà khoa học nghiên cứu gọi là văn minh Ấn-Hoa chưa tràn vào các quốc gia Ðông Nam Á trong đó có Champa. Giai đoạn sơ khai lập quốc, dân tộc Champa chưa tiếp nhận một hệ thống tâm linh (tôn giáo) nào, do đó những lễ hội dân gian không phải phát xuất từ niềm tin tôn giáo mà từ tín ngưỡng dân gian bản địa khởi đầu từ thời kỳ săn bắn hái lượm rồi dần dà từng bước trở thành nền tảng văn minh sơ khai nông nghiệp tạo thành văn hóa nguồn cội của dân tộc Champa.
Nhiều người lớp hậu sanh của dân tộc Champa của thế kỷ 20-21 này cứ lầm tưởng những lễ hội “Rija Nưgar”, Mbăng Katê . .. Có từ trước khi Bà La Môn du nhập đất nước Champa. Các lễ hội cội nguồn này vẫn được dân tộc Champa cưu mang và trân trọng.
Mục đích lễ hội “Mbăng Katê” theo truyền thống là để nhớ ơn đến các bậc tiền nhân có công khai quốc, nhớ đến những anh hùng dân tộc và tổ tiên ông bà, cha mẹ đã khuất bóng. Lễ hội thường diễn ra vào đầu tháng 07 CHĂM lịch tức khoản đầu tháng 10 dương lịch tại các nơi công cộng như đền Tháp miếu đình của làng xóm tùy theo hoàn cảnh mỗi địa phương chứ không nhất thiết phải tổ chức tại các đền Tháp như nhiều người lầm tưởng. Sau đó trong 3 ngày dân chúng tại mỗi địa phương bắt đầu tổ chức Katê “tại tư gia, gia đình, giòng tộc để tưởng nhớ ông bà tổ tiên. Lễ hội Mbăng Katê cộng đồng còn có cả người Raglai do các già làng hướng dẫn đến tham dự. Trước khi tổ chức lễ Katê tại Ðền Tháp, Pô Dhia (chức sắc tôn giáo lớn nhất), Ôn Kadhar Gru, Muk Pajâu, Ôn Chăm nay và ông Jơngưi làm lễ tại Danok (nơi giữ đồ lễ phục, vương miệng . . . của vua) để xin rước lễ phục về lăng Tháp làm lễ hội. Nếu “lễ Katê” tổ chức tại gia đình và giòng tộc thì đơn giản, chỉ có người chủ giòng tộc khấn vái ông bà tổ tiên kể cả cha mẹ đã khuất bóng; Nhưng đối với “Lễ Katê” tại Ðền Tháp thì lớn hơn do các vị chức sắc tôn giáo như Pô Dhia, Ôn Kadhar Gru, Muk Pajâu, Ôn CHĂM. Nay và ông Jơngưi (già làng Raglai) phối hộp hành lễ. Buổi lễ diễn ra với các lễ vật bánh trái, với đờn Kanhi lãnh lót quyện vào những lời hát ca ngợi công đức của nhà vua. Mọi người dân tham dự đều có thể khấn vái, cầu xin sự an lành.
Hình thức tổ chức “Lễ Katê” tại đền Tháp chỉ là những sự tiếp nối “Lễ Hội Katê” nguyên thủy của gia đình và giòng tộc của dân tộc Champa trong tín ngưỡng dân gian bản địa.
Ðiểm nổi bật trong mùa “Lễ Katê” là mọi người đều ăn mặc lịch sự đẹp đẻ, đủ màu sắc. Thôn làng trở nên nhộn nhịp hơn bất cứ lúc nào trong năm; nổi hân hoan vui mừng hiện lên trên nét mặt, trong ánh mắt, trong câu nói tiếng cười, trong những câu chuyện gần xa của suốt năm được ôn lại v.v..
Bánh trái, thức ăn trong ngày lễ hội cũng mang đầy màu sắc văn hóa cổ truyền dân tộc như: Painung, Sakaya, Pai Kalỵ, Knòn Rija .v.v.. đó là những thứ bánh mà ngày thường không có ai bán cho mình mua để ăn, mà cũng không ai làm lấy để ăn trong thường ngày vì nó sẽ thiếu hương vị. Nó thiếu hương vị bởi vì không có màu áo sặc sở lụa là, mới mẻ, không có câu nói tiếng cười rộn rã, không có nhộn nhịp đường làng xuyên dọc xuyên ngang và nhất là đôi khi có những làn “mua bụi” phơn phớt nhẹ nhàng trên mái tóc của những cô Chiêm nữ rồi ngưng .. . do đó bánh văn hóa mùa “Katê” sẽ thiếu hương vị nếu ta ăn vào dịp khác.
Ðặc biệt hơn nữa trong mùa lễ hội “Katê”, “Tình tự dân tộc” lại len lẽn vào tâm tư mọi người nhiều hơn bao giờ hết đó là hình ảnh các tiền nhân, ông bà tổ tiên, những câu chuyện vui buồn của dân tộc đem quyện vào cảnh sinh hoạch ngày lễ hội của thôn làng thành một thứ “tình tự dân tộc” thắm thiết; bởi vì dân tộc là một sự tiếp nối liên tục không đứt quãng, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; như văn hào Pháp Victar Hugo đã nói: “Dân tộc bao gồm nhiều người chết hơn người còn sống, những người đã khuất vẫn còn đây, họ vô hình nhưng có mặt”. Do đó trong mùa “KATÊ” những hậu sinh dân tộc CHAMPA thường chạnh lòng nhớ đến các anh hùng khai quốc, các tiền nhân có công khai sơn phá thạch, các vị anh hùng Khu Liên hay Sri – Mara, Pô Inư Nưgar, Pô Klongirai, Pô Dam v.v.. . nhắc nhớ hoài và mãi mãi từ đời nọ sang đời kia và đó là “văn hóa truyền thống” của dâ tộc Champa vậy.
Hình ảnh sinh hoạt lễ hội Katê cho ta thấy đó không phải chỉ là những hình ảnh sinh hoạt cá nhân gia đình giòng tộc, mà còn là của cộng đồng dân tộc. Bởi vậy nếu những ai quên đi những sinh hoạt lễ hội truyền thống này thì hình ảnh sinh hoạt dân tộc sẽ mất đi và dần dà “dân tộc tính sẽ phai nhòa trong tâm thức của họ để rồi sinh hoạt văn hóa khác sẽ thẩm thấu vào tư duy hay đúc tin của cá nhân đó, lôi cuốn họ, với thời gian họ sẽ quên hẳn sinh hoạt văn hóa dân tộc cội nguồn của mình đi đến sự mất “bản sắc” dân tộc và bị đồng hóa thành dân tộc khác. Trường hợp cụ thể gần gủi nhất như bốn làng CHĂM trước đây ở ấp Xuân Quang, Xuân Hội, Tuân Mục, Tuân Giáo thuộc huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận ngày nay. Bốn làng này trước đây đều là làng CHĂM theo đạo Bà La Môn; hằng năm vẫn làm lễ hội Mbăng – Katê, lễ hội Rija Nưgar, lễ Rija Harei, Rija Dayanp v.v.. và thờ cúng thần linh theo nền vân hóa truyền thống của dân tộc CHĂM từ hai ngàn năm qua. Ðến năm 1945 dân tộc CHĂM tại bốn làng nêu trên không biết vì lý do gì đã đem đốt hết những chiết ATâu của giòng họ, có người đem vứt xuống sông, từ chối tất cả nền văn hóa và tín ngưỡng cũ, mặc quần áo giống như người Việt cho đến ngày nay, số dân CHĂM ở bốn làng nêu trên đã bị đồng hóa thành người Việt. Ðó là lý do tại sao chúng ta phải bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc và phải biết gìn giữ cội nguồn dân tộc nếu không muốn bị mất gốc.
Ði xa hơn chút nữa, sau khi Vương Quốc Champa bị sụp đổ hoàn toàn vào năm 1832, dân tộc Champa đã ly tán đến những quốc gia lân cận như Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Cam Bốt, Hải Nam (Trung Hoa) .. . số dân tộc Champa này đã mù mờ về cội nguồn của mình và phần đông đã bị đồng hóa thành dân tộc tại các nước đang chung thân; duy có dân tộc CHĂM ở Cambốt, cho đến ngày nay họ vẫn còn biết rõ họ là CHĂM nhưng phần lớn họ không còn biết gì về lịch sử, văn hóa dân tộc CHĂM, thậm chí những người CHĂM ở Ninh Thuận, Bình Thuận muốn dạy tiếng mẹ đẻ tức chữ CHĂM từ xưa đến giờ cho họ, nhưng họ từ chối và không muốn học. Tình trạng này không biết họ sẽ bị đồng hóa hoàn toàn thành người Campuchia hay không giống như số dân CHĂM ở Mã Lai, trong hai trăm năm qua bây giờ họ đã trở thành người Mã Lai thực sự.
Khi ông Blengsli, một nhà nhân chủng học Thụy Ðiển, hỏi một người CHĂM đang sống ở Cambốt: ngôn ngữ các anh là gì: họ trả lời một cách tự nhiên: “Tiếng Ả Rập” (Việt Báo San Jose số 1520 ra ngày 19-01-03).
Còn ở Việt Nam trong những năm trước đây, theo lời ông Thành Phú Bá một nhà trí thức người CHĂM đã kể lại như sau: Sở văn hóa giáo dục tỉnh Tây Ninh (chế độ xã hội chủ nghĩa hiện nay) ra tỉnh Ninh Thuận Phan Rang gặp Ban biên soạn chữ CHĂM để xin sách vở chữ CHĂM cho đồng bào CHĂM ở Tây Ninh học tiếng mẹ đẻ của họ.
Ông Nguyễn Văn Tỷ là trưởng ban biên soạn chữ CHĂM Phan Rang đã tiếp kiến vị đại diện Sở Giáo Dục Tây Ninh và ông Nguyễn Văn Tỷ với tư cách là trưởng ban biên soạn đã vui mừng và đích thân ông ta cùng với vị đại diện Sở Văn Hóa Giáo Dục Tây Ninh trở lại Tây Ninh.
Khi ông Nguyễn Văn Tỷ đến Tây Ninh và vội vàng đến thăm hỏi đồng bào CHÀM Tây Ninh và đồng thời trao tất cả sách vở chữ CHĂM cho đồng bào CHĂM Tây Ninh để học tiếng dân tộc của mình, nhưng than ôi! đồng bào CHĂM Tây Ninh không chịu học chữ trong sách này và họ bảo rằng đây là chữ CHĂM của vua CHẾ BỒNG NGA, họ không chịu học chữ CHĂM này!!! Không biết chữ CHĂM nào mới là của họ? Ông Nguyễn Văn Tỷ quây gót trở về Phan Rang mà lòng buồn rũ rượi! Hậu quả là do không bảo tồn văn hóa cội nguồn mà ra nông nỗi này Ðúng là da Chăm, tóc Chăm, mắt Chăm, giòng máu Chăm con người rõ ràng là CHĂM mà không phải là CHĂM!
Không biết nên cười hay nên khóc đây hỡi ông trời cao?:
Xanh kia thâm thẩm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?!
(Ðặng Trần Côn)

II. NGÔN NGỮ VÀ CHỮ VIẾT CỘI NGUỒN

Ngôn ngữ và chữ viết là di sản văn hóa quí báo của bất cứ một dân tộc nào do tiền nhân của họ để lại cho lớp hậu sanh. Nó là những ký hiệu rất cần thiết để ghi chép, để diễn đạt, để giải thích, để tâm tình và trao đổi giữa con ngươi trong cuộc sống, để biểu thị để thông đạt nhất là cho những người đồng chủng nhận biết nhau.
Các nhà khoa học Tây Phương đã xếp ngôn ngữ Champa vào nhánh ngôn ngữ Nam Ðảo hay Nam Á (Austronesian), hay Mã Lai đa đảo (Malayo – Polynesian). Tiếng CHĂM và tiếng các sắc tộc, Radhé, Jarai, Churu, Riglai, Banar v.v.. tạo thành một nhánh ngôn ngữ gọi là ngôn ngữ CHĂM (The Chamic Languages).
Trong tiến trình lịch sử, dân tộc Champa từ cội nguồn có một số chữ khác nhau được dùng đến từ thời lập quốc ban sơ, rồi trải qua giai đoạn hùng cường hưng thịnh rồi suy thoái cho đến ngày hôm nay, gồm sáu loại chữ sau đây:
1. Sanscrit (chữ Phạn) tiếp nhận từ thế kỷ đầu Tây lịch.
2. Akhar Rik (cổ tự, chữ Thánh) là loại chữ chép tay các văn bản còn lưu truyền trong dân gian đến ngày nay.
3. Akhar Tapuk (chữ sách) còn được coi là chữ truyền thống dân tộc, sử dụng như là quốc ngữ trong dân gian.
4. Akhar Jok (chữ bí ẩn) là loại chữ thay dấu âm bằng mẫu tự.
5. Akhar Kalimưng (chữ con nhện) thể hiện lối viết tháo giống như con nhện.
6. Akhar Thrah: là loại chữ thông dụng còn được hậu duệ Chăm học tập truyền dậy cho người khác, còn xử dụng trong dân gian Chăm đến ngày hôm nay.
Ngay từ thế kỷ thứ II khi bắt đầu lập quốc, chữ Phạn (Sanscrit) được dùng đến để giao dịch với các nước, dùng vào việc triều chính quốc gia, viết các văn bản về tôn giáo v.v.. . do đó trong giai đoạn này các sĩ phu Champa rất tinh thông về Phạn ngữ. Sau này cũng thấy loại chữ Sanscrit xuất hiện trên các văn bia của dân tộc Chăm ca tụng công đức vua chúa bằng Phạn ngữ. Bắt đầu từ thế kỷ thứ III, từ nền tảng chữ Sanscrit, đã có những cải tiến liên tục chữ viết CHĂM cho phù hợp với ngôn ngữ CHĂM thời đó và dần dần biến đổi chữ viết để ghi âm tiếng mẹ đẻ của mình đến ngày nay gọi là Akhar Thrah. Trong dân gian CHĂM dùng chữ Akhar Thrah này để sáng tác, ghi chếp các bản trường ca, thơ phú, truyện ngắn, truyền thuyết lịch sử, giao dịch v.v.. đã trở thành văn tự truyền thống của dân tộc. Loại chữ “Akhar Thrah” được giới nghiên cứu trong và ngoài nước biết đến nhiều nhất và được sử dụng ghi chép các văn bản chép tay; đặc biệt được dùng trong tự điển CHĂM – Pháp của E. Aymonier và A. Cabaton (1906).
Theo các nhà ngôn ngữ học, tại khu vực Ðông Dương, nhiều ngôn ngữ khác cũng như ngôn ngữ CHAMPA đang diễn ra một số biến đổi. Ðối với ngôn ngữ CHĂM hiện nay, hình thức khẩu ngữ (ngữ âm) và cách phát âm theo “Akhar Thrah” có phần khác nhau nhưng vì chữ “Akhar Thrah” là văn tự truyền thống được dân tộc CHĂM chấp nhận, lại là chữ viết thông dụng của người CHĂM từ xưa tới nay để viết sách, sáng tác thơ văn, giảng dạy ở lớp học và dùng vào cách ăn nói trang trọng, lịch sử do đó cần phải có phương thức khắc phục sự khác biệt về khẩu ngữ và cách phát âm của “Akhar – Thrah” để đưa đến đồng nhất ngỏ hầu hợp nhất được giữa phát âm và chữ viết được phản ảnh trung thực và chính xác giữa nói và viết.
Trong ý hướng bảo tồn ngôn ngữ của dân tộc CHÀM, trong suốt hơn một thế kỷ qua, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã nỗ lực làm việc, mang lại những thành quả đáng được vinh danh như sau:
1906: Tự Ðiển CHĂM – Pháp của tác giả E. Aymories xuất bản.
1971: Tự Ðiển CHĂM-VIỆT-PHÁP của G. Moussay xuất bản.
1995: Văn học dân gian CHĂM (tục ngữ, thành ngữ, câu đố) của tác giả Inrasara (người CHÀM) xuất bản
1995: Tự Ðiển CHĂM-VIỆT của các tác giả Inrasara, Thành phần, Phú Văn Hẳn, và Quảng Ðại Cẩn, họ là những trí thức trẻ, gốc CHÀM xuất bản.
1996: Tự Ðiển VIỆT-CHĂM của Phú Trạm (Inrasara) và Quảng Ðại Cẩn do giáo sư Bùi Khách Thế chủ biên.

III. NIỀM TIN TÔN GIÁO

Tín ngưỡng dân gian bản địa kết hợp với niềm tin tôn giáo cội nguồn đã tạo thành một hệ thống tâm linh chỉ đạo và soi sáng cho mọi sinh hoạt của dân tộc Champa về mọi lãnh vực; kinh tế, xã hội, văn học nghệ thuật nhân sinh quan và kể cả chính trị nữa, tổng hợp lại thành bản sắc dân tộc Champa ngay từ buổi sơ khai lập Quốc (cội nguồn), bản sắc ấy đến ngày nay vẫn còn tiềm tàng trong con người và trong cuộc sống của dân tộc CHĂM đang sinh sống tại lãnh địa Panduranga cũ tức Ninh Thuận và Bình Thuận Việt Nam ngày nay.
Trước khi độc lập trong lịch sử, dân tộc Champa với tín ngưỡng dân gian bản địa có vô số thần linh lớn nhỏ. Sau khi lập quốc được ổn định vấn đề giao thương được đặt ra với các nước trên thế giới, có lẽ sau Khu Liên hay Sri Mara (cho tới bây giờ chưa có một tài liệu lịch sử rõ ràng nào nói về thời gian lập quốc Champa trước Khu Liên, tức trước công nguyên, nên tạm gọi Khu Liên hoặc Sri Mara là anh hùng dựng nước đầu tiên), văn hóa tôn giáo Ấn Ðộ theo chân thương buôn Ấn vào đất nước Champa. Vậy, Ấn Ðộ giáo là tôn giáo cội nguồn của dân tộc Champa sau hơn một thế kỷ lập quốc. Sau này còn có Phật Giáo và Hồi Giáo du nhập vào Champa, và sẽ được trình bày hai tôn giáo này trong phần ngả rẻ tâm linh của dân tộc Champa,.

VÀI NÉT VỀ ẤN ÐỘ:

Ấn Ðộ là một bán đảo hay là Bán lục địa rộng lớn, nằm mơ màng và biệt lập về phía nam trên phần đất của Châu Á. Dẫy Hy Mã Lạp Sơn chập chùng cao ngất và hùng vĩ như một bức tường thiên nhiên vĩ đại ngăn cách Ấn Ðộ và phần đất còn lại của Á Châu, biến đất nước Ấn Ðộ như một lục địa riêng biệt bị cô lập và nằm im lìm đầy tư lự với thế giới bên ngoài.
Dẫy Hy Mã Lạp Sơn cũng là nguồn cội phát xuất hai con sông lớn và nổi tiếng của Ấn là sông Hằng Hà (Gange) và sông Ấn Hà (Indus). Non cao hùng vĩ, sông dài thâm sâu này là một đặc trưng của thiên nhiên của phong thể địa lý, ảnh hưởng đến niềm suy tư của dân tộc Ấn. Từ khởi điểm này, Ấn Ðộ là quê hương của huyền bí với vô số thần linh thiên thủ thiên nhãn đầy quyền lực vạn năng chi phố đời sống tâm linh và vật chất con người; và từ niềm suy tư đó, Ấn Ðộ còn là quê hương của Triết học. Vì vậy tôn giáo Ấn Ðộ (Hinduism) không bắt nguồn từ những mặc khải thiêng liêng trước Thượng Ðế như Thiên Chúa Giáo hay Hồi Giáo mà là kết quả do sự khám phá của các nhà Hiền triết, các Ðạo sĩ uyên thâm, nhìn xa trông rộng. Những kết quả của chân lý khám phá được này đều là sản phẩm tư tưởng của các nhà hiền triết, các đạo sĩ thấu thị cũng như những tư tưởng của tiền nhân Ấn chứa đựng trong những kinh sách của dân tộc họ.

ẤN ÐỘ GIÁO:

Ấn Ðộ Giáo (Hinduism) hay Bà la môn (Brahmanism) là một tôn giáo lớn được dân tộc Ấn tôn sùng. Một tôn giáo cổ nhất còn tồn tại đến ngày nay và trên thế giới có đến 689.205.100 tín đồ rải rác khắp toàn cầu (Tinh hoa các đạo giáo của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ trang 22).
Nói đến Ấn Ðộ Giáo là nói đến Thần linh, có vô số thần linh, nhưng có ba vị thần chính như sau:
Brahma: Thần sáng tạo, có 4 đầu ngự trị trên đỉnh núi huyền thoại Meru (núi Tu Di), tiêu biểu cho sự sinh ra, sự chết và sự tái sanh; cai quản vũ trụ. Ðây là thần linh thứ nhất của các thần linh. Brahma có vợ là Nữ thần Savasvati, thường cưỡi Công Thần.
Vishnu: Là Thần Bảo trì vũ trụ, là hiện thân của lòng hào hiệp và tính khoang dung độ lượng, thường nằm trên mình con rắn chín đầu Ananta, có vợ là Laksmi, sống trên đỉnh núi Meru – Ngài thường cưỡi con Nhân Ðiểu Garuda trong khi vân du Thượng giới. Vishnu đã giáng trần nhiều lần để cứu nhân độ thế.

SHIVA:

Là Thần phá hủy, là thần bình dân nhất trong ba vị thần này. Ngài sống trên núi Kailas, thường hay cưỡi Bò Nandin. Shiva có nhiều vợ như Nữ Thần Parvati, Nữ Thần Uma, Nữ Thần Shakti, Nữ Thần Durga và Nữ Thần Kali.
Shiva và vợ là Kali còn được thờ dưới hai hình tượng Linga (Dương tính) và Yomi (Âm tính). Tuy Thần Shiva là Thần phá hủy nhưng lại có vai trò tái sanh. Linga (dương tính) là tiêu biểu cho quyền năng sáng tạo của Shiva.
Ba vị Thần Brahma, Vishnu và Shiva có liên hệ mật thiết với nhau trong quyền năng cai quản, bảo trì và tái tạo vũ trụ nối tiếp nhau trong vô tận.
Ðạo Bà La Môn được thế giới quan tâm và chú ý đến nhiều, không phải do những hình thức lễ nghi bên ngoài, không phải do những ngôi đền thờ nguy nga đồ sộ thậm nghiêm mà chính là do những Bộ Thánh Kinh VEDA, Upanishads, Bhagavad Gita và Phương Pháp Yoga của họ.

ÐẠO BÀ LA MÔN VÀ GIAI CẤP XÃ HỘI:

Ngày xưa trong Ấn Ðộ giáo người ta chấp nhận bốn giai cấp trong xã hội Ấn như sau:
1. Giai cấp tăng chữ hay tu sĩ (Brahmana) coi về tế tự và giáo hóa.
2. Giai cấp quí tộc và chiến sĩ (Kshatriya) làm vua, làm quan, làm tướng.
3. Giai cấp thương nhân, địa chủ (Vaishya) làm nghề nông, buôn bán.
4. Giai cấp công nhân (Shundras) làm công việc chân tay.
Muốn trở thành một tín đồ của Ấn Giáo không phải là chấp nhận những tín điều mà phải thờ phượng và phải trở thành một trong bốn giai cấp xã hội nêu trên. Trong Ấn Ðộ giáo, con người phải qua vòng Luân Hồi. Con người được tái sanh vào một giai đoạn cấp cao hay thấp là do nghiệp mình đã làm trong tiền kiếp, tốt hay xấu nhiều hay ít. Một con người sau khi tái sanh được đầu thai làm Tu sĩ ở giai cấp đầu do kiếp trước họ làm lành lánh dữ. Nhưng nếu người Tu sĩ của kiếp này hành động sai trái ác tâm, tâm niệm bất chánh thì kiếp sau sẽ tái sanh làm súc vật.
Ngoài bốn giai cấp nêu trên, còn có nhiều thành phần sống ngoài lễ xã hội như: những tu sĩ không nhà, những người khố rách cùng tiện, cô thân độc mã v.v… những người ngoại quốc v.v… Ngày xưa khi còn lúc sinh thời nhà cách mạng bất bạo động Gandhi đã hết sức bênh vực những kẻ khốn cùng ấy và được Hiến Pháp Ấn Ðộ đã bỏ lệ phân biệt giai cấp và cho nam nữ được bình quyền vào năm 1949.
Trong cuộc đời của dân Ấn trước đây cũng được chia thành nhiều giai đoạn:
Thời kỳ trong trắng, thanh khiết: Lo học tập
Thời kỳ đã trưởng thành thì lập gia đình để mưu sinh kiếm tiền hưởng thụ và sống hẳn hoi trong tinh thần đạo đức.
Ðến khi gia đình được ổn định, con cái lớn lên và trưởng thành rồi, tuổi tác đã ngã về chiều thì vào rừng ẩn cư.
Ðến giai đoạn sau cùng của cuộc đời đó là thời kỳ thoát tục, vô gia cư, rũ bỏ mọi cám dỗ ràng buộc của trần gian, sống khất thực, vô vi thanh tĩnh để chuẩn bị ca khúc khải hoàn trên con đường giải thoát (sinh ký, tử qui).

Sự thờ phượng trong Bà La Môn Giáo:

Trong Bà La Môn giáo vấn đề thờ phượng do các Tu sĩ đảm nhận thiên chức này, bởi vì giới tu sĩ là giai cấp số một, là giới thuần khiết nhất và là giới học hành hiểu biết về các giáo điều, các thủ tục hiến tế và lễ nghi đầy chi tiết rậm đặc.
Việc thờ phượng Ðạo Bà La Môn thường theo những hình thức sau đây:
Tham dự những lễ hội tổ chức hằng năm tại các đền thờ hay những vùng đất thiêng do các tu sĩ hướng dẫn việc thờ phượng.
Dâng hoa quả, hiến sinh do các nhân hay là tập thể được thực hiện tại tư gia hay tại những nơi tôn nghiêm của dân tộc
Ði hành hương tại các thành phố Thiêng v.v…

Ấn Ðộ Giáo và con đường giải thoát:

Muốn giải thoát có theo nhiều phương cách khác nhau:
Dùng trực giác để tìm và đạt đến chân lý tối hậu tiềm ẩn sau những hiện tượng biểu hiện.
Tôn sùng Thượng đế, hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho Thượng đế qua lòng tin và kính phục, vì Thượng đế đã bảo: “kẻ nào Thờ phượng ta, sẽ trở nên bất diệt”. Khi lòng sùng tín bừng sóng trong tâm hồn một cá nhân kính yêu Thượng đế, thì tâm hồn kẻ đó được khai mở và thấy được ánh sáng của chân lý.
Ngoài ra còn có thể tập Yoga bằng cách ngồi xếp bàn tọa, tĩnh tâm để luyện tập tâm lý và sinh lý nhằm giải thoát được những ràng buộc của thể xác.

Ðạo Bà La Môn, Tôn Giáo Cội Nguồn Của Dân Tộc CHAMPA:

Những quốc gia như Miến Ðiện, Mã Lai Á, Thái Lan, Cambốt, Lào, Việt Nam, Nam Dương, Phi Luật Tân và cả hai quốc gia đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới đó là: Phù Nam và Champa … qui tụ trong một khoản không gian rộng lớn chạy dọc từ biên giới Ấn – Hoa chạy vòng xuống kế cận với biên giới Ú Châu và giáp với những hòn đảo thuộc Nê Zealand. Toàn khu vực nêu trên, mãi đến thời Ðệ Nhị Thế Chiến, vùng đất bao la đó được đặt tên là Vùng Ðông Nam Á để chỉ một địa danh chiến lược quân sự. Vùng “Ðông Nam Á này lại nằm trên ngã tư đường giao thông quốc tế, nên rất thuận lợi cho các nền văn minh văn hóa nhân loại cùng với các tôn giáo trên thế giới gặp gỡ nhau, mang đến cho các dân tộc thuộc vùng này những sự tiếp nhận hài hòa cũng như những vòng hào quang trong buổi giao thời đối với những nền văn hóa và tôn giáo nói trên, trong đó có văn hóa Ấn Ðộ và Bà La Môn giáo đã ảnh hưởng vào đất nước Champa một cách êm đềm, ôn hòa dễ chịu khi bước vào và nhẹ nhàng thầm lặng lúc bước ra. Do đó mặc dù Champa trong một vài thế kỷ đầu lập quốc đã ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo Ấn Ðộ nhưng chỉ ảnh hưởng vào lớp tăng lữ, lớp thống trị và lớp quí tộc, còn đối với quần chúng Champa họ vẫn giữ lề lối sinh sống và tín ngưỡng truyền thống từ cội nguồn xa xưa để lại, vẫn giữ bản chất và tinh thần cũng như sắc thái riêng biệt hay nói khác hơn là văn minh bản địa của dân tộc Champa.
Mặc dù dân tộc Champa tiếp nhận văn hóa và tôn giáo Ấn Ðộ nhưng đã bản địa hóa tôn giáo này cho phù hợp với văn hóa cội nguồn của họ. Tuy nhiên, qua những chứng tích lịch sử, qua những bia ký, qua những di tích đền tháp, qua những công trình kiến trúc, những tác phẩm điêu khắc, những cách sống của các tu sĩ, chức sắc tôn giáo, qua những phương thức tế tự, việc kiêng cữ thịt Bò của “CHĂM Bà La Môn”, người ta có thể khẳng định được người Champa theo đạo Bà La Môn từ cội nguồn và cho đến ngày nay vẫn còn tiềm ẩn một cách bàng bạc trong tôn giáo và văn hóa của họ những gì của Ấn Ðộ giáo và văn hóa Ấn:

.

Tôn giáo Bà La Môn trong các đền tháp và bia ký Champa

Như phần trên trình bày: Tôn giáo Bà La Môn của Ấn Ðộ có vô số thần, nhưng có 03 vị thần chính như sau:
Brahma (sáng tạo)
Vishnu (bảo trì; Shiva (Thần phá hoại)
Qua những bia ký, qua những công trình kiến trúc, những tác phẩm điêu khắc, dân tộc Champa vẫn công nhận có sự hiện hữu của các vị Thần Brahma, Vishnu, Shiva của Ấn Ðộ giáo:
Các nhà điêu khắc chẳng những điêu khắc, chạm trổ 03 vị thần nổi tiếng của Bà La Môn giáo mà còn điêu khắc luôn cả những hóa thân, những con vật thiêng mà các Thần ấy cưỡi nữa. Ví dụ Thần Brahma thường cưỡi Công Thần; thần Vishnu thường cưỡi con Nhân Ðiểu Garuda; Thần Shiva thường cưỡi con Bò Nandin thường thấy tại các đền tháp khu Thánh địa Mỹ Sơn, các đền Tháp Pô Klongirai, Pô Romé.
Một số vua Champa sau khi xây dựng lên một Tượng Thần, tượng thần đó gắn luôn với tên mình. Về sau khi một ông vua Champa tôn thờ thần nào thì tên hiệu của ông ta được gọi gắn liền với tên của vị thần đó. Ví dụ như vua Bhadravarman tôn thờ Thần Shiva. Sau khi nhà vua này xây tháp xong thì lập Linga (biểu tượng Dương tính của Thần Shiva được tôn thờ phổ biến ở Champa) tại khu Thánh Ðịa Mỹ Sơn. Linga này được xem là cổ vật lâu đời nhất của Champa (từ cuối thế kỷ thứ IV đến đầu thế kỷ V). Biểu tượng Linga này gọi theo Phạn ngữ là Bhadresvara (Bhadr: phần đầu tên vua, Esvara: hậu tố).
Trong thời gian từ năm 478-578 Linga này bị phá hủy và được vua Sambhuvarman rất sùng kính shiva cho sửa lại. Sau đó vua Sambhuvarman này được gọi là Sambhu-Bhadresvara gắn liền tên ông ta là (Sambhu) với tên Linga (Bhadresvara) biểu tượng của Thần Shiva.
Vua Srisana thờ phụng Thần Shiva và ông ta cũng trực tiếp thờ luôn Linga Bhadresvara, sau đó vua Srisana được gọi là Srisana-Bhadresvara. (thế kỷ 9)
Những tác phẩm điêu khắc, những bia ký liên quan đến đạo Bà La Môn của Champa cho thấy Thần Shiva được sùng kính nhiều hơn ví dụ trong 128 bia ký của Champa tìm được thì có 92 bia ký sùng kính Shiva và các hóa thân của Ngài, chỉ có 5 bia ký nói đến Brahma, 8 bia ký đề cập đến Phật Giáo, 03 bia ký đề cập đến Vishnu, còn 21 bia ký chưa được xác định. (Trang 287 văn hóa Chăm, Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Ðốp.
Trong ngành điêu khắc cổ của Champa, dạng Linga là biểu tượng quan trọng nhất trong các hiện thân của Thần Shiva – Linga kết hợp với Yoni (biểu tượng kết hợp Âm tính và dương tính) dưới dạng đang múa đang chìm đắm trong suy tưởng.
Tại Tháp Pô Inư Nưgar (Tháp Bà Nha Trang) có nữ căn của Shiva ở người CHĂM là Uma.
Các hiện thân khác của Thần Shiva là Gamesa con trai của Thần Shiva mình người đầu voi. Skanda cũng là con trai của Thần Shiva, đứng trên lưng chim Công Thần. Ngoài ra hiện thân của Thần Shiva còn có Bò Thần Nandin. Con vật thiêng Gajasimha (đầu Voi mình Sư Tử) đều là những con vật thiêng của vật thần mà Thần Shiva đã cưỡi. Những con vật Thần này đều có tại một số đền tháp tại Thánh Ðịa Mỹ Sơn. Tại Tháp Pokloong, Tháp Po Romé ở Phan Rang đều có thờ Bò Thần Nandin đang nằm trong Tháp.
Thần Shiva tuy là Thần hủy diệt nhưng với biểu tượng Linga và Linga – Yoni lại là tượng trưng cho sự sanh sôi nẩy nỡ, do đó biểu tượng thì Linga lại thể hiện sự mơ ước của cư dân nông nghiệp Champa.
Hiện thân sinh động nhất của thần Shiva là tượng Shiva múa, là biểu tượng cho năng lực dồi dào của Thần Shiva, là ngài cũng là chúa tể của các vũ điệu.
Tượng Uma tức vợ Thần Shiva của Champa ở tháp Pô Inư Nưgar trông đẹp đẽ phi phàm của một nữ thần tình yêu, khác với nữ thần tinh yêu Kali, Danga của Thần Shiva Ấn Ðộ trông có vể dữ tợn hơn. Sự đẹp đẽ phi phàm của nữ Thần Uma của Chăm có lẽ phát xuất từ tâm hồn đẹp đẽ và kỹ thuật điêu khắc tân kỳ của các điêu khắc gia Champa.
Về Thần Shiva và Vishnu tuy không phải là hai Thần CHĂM vẫn không bỏ quên. Trường hợp Thần Brahma được các điêu khắc gia mô tả là Thần có 4 đầu, về sau còn 03 đầu. Vợ của Brahma ở người CHĂM là Sarasvati một nữ Thần của khoa học và nghệ thuật.
Về Thần Vishnu Champa, tuy không phong phú như ở Ấn Ðộ nơi được đa số dân Ấn thờ phượng các điêu khắc gia Champa qua tượng thần Vishnu ở phong lệ với rắn thần Naga có nhiều đầu đã biểu thị được cho thần Vishnu là thần của nghệ thuật. Ở Ða Nghi, Tuy Hòa các điêu khắc gia Champa cho ta thấy được tượng thần Vishnu có bốn tay, đứng trang nghiêm biểu hiện cho sự khoan dung và công bằng …
Ngoài ra những con thú linh thiêng mang tính cách thần thoại như Kala, Makara, quỉ dữ Yaksa v.v… của Ấn Ðộ giáo vẫn được dân tộc Champa tiếp nhận qua những nét điêu khắc gia Champa được tìm thấy nhiều nhất ở Thánh Ðịa Mỹ Sơn.
Sự ảnh hưởng sâu đậm Bà La Môn giáo về tâm linh về triết lý qua các đền Tháp, bia ký Champa kéo dài đến thế kỷ XVII thời vua Pô Romé thì có vẻ chuyển hướng, sẽ được nói đến trong phần ngả rẽ tâm linh của dân tộc ở những trang sau.

Tôn giáo Bà La Môn và các Tu sĩ Bà La Môn Champa:

Trong xã hội dân tộc Champa các Tu sĩ như Pasêh, Tapah Dhia là những thành phần cốt cán của đạo Bà La Môn CHĂM. Nhưng vị tu sĩ đạo Bà La Môn Champa là những vị chức sắc tôn giáo lãnh đạo tinh thần của người CHAMPA theo đạo Bà La Môn, và là những thành phần được xem là trung gian giữa thần linh, thượng đế và dân gian CHĂM.
Những Tu sĩ Champa gồm có: Pasêh, Tapah, Dhia là những vị chức sắc tôn giáo được mọi người Champa kính trọng. Muốn trở thành một tu sĩ Bà La Môn Chăm, người thanh niên đó phải khỏa mạnh, không tật nguyền, tư cách đứng đắng, phải làm mọi lễ rủa tội trước khi trở thành tu sĩ, phải biết rành chữ CHĂM và phải được các vị Pô Pasêh chấp nhận. Thường thường những thanh niên có dòng tu sĩ (như cha ông đã từng làm tu sĩ) có khuynh hướng “Ðun Kok” thành tu sĩ.
Các tu sĩ còn được gọi là các chức sắc đạo Bà La Môn, mặc áo dài trắng, quấn chăng trắng có rìa mép ngang phía dưới gót chân và dọc bên trái của tấm chăng có màu sắc sặc sỡ khác nhau tùy cấp bậc của tu sĩ. Trên đầu quấn khăn trắng, búi tóc trên đỉnh đầu.
Thiên chức cao cả của các tu sĩ Bà La Môn là đảm trách việc tế tự tang lễ hỏa táng hoặc có loại đám tang nhỏ sau khi qua một đêm rồi đem an táng; làm từng, sau khi hỏa táng xong rồi một thời gian sau hài cốt (xương sọ) sẽ được các vị tu sĩ đảm trách đưa vào “Kút” giồng tộc hay nghĩa trang dòng tộc. Ngoài ra thiên chức các vị tu sĩ Bà La Môn còn lo việc tế tự trời đất.
Lễ “Ðung Kok” của một thanh niên mới gia nhập tu sĩ thì nhỏ nhưng lễ tấn phong một Pô Pasêh lên chức Pô Tapah thì rất lớn và linh đình, kéo dài trong thời gian bảy ngày, rất đông người đến phụ giúp và hầu hết các vị tu sĩ các cấp của Bà La Môn trong toàn vùng đến tham dự, rất là tốn kém. Bởi vậy những gia đình nghèo không đủ khả năng để làm tu sĩ, vì ngoài những lễ vật cúng tế, còn phải thết đãi biết bao nhiêu người đến tham dự trong suốt thời gian 07 ngày đêm như vậy.
Khi lên chức “Pô Tapah” vị tu sĩ này bắt buộc phải biết rành rẽ về các Bộ kinh:
Găl Pak Plih: Kinh rửa tội
Găl Prong (bô đại kinh): Tụng trong các lễ tấn phong chức sắc tôn giáo Bà La Môn, tụng trong khi làm lễ Lập Kút hay nhập Kút.
Găl Pakbral bôi: Kinh tụng trong nghi thức “nằm thiếp” của lễ tấn phong “Pô Tapah”, tu sĩ phải luôn luôn tâm niệm.
Bai kap: Kinh tụng trong các lễ Cầu mưa, cúng trị Lăng tháp tại các cửa sông (Plao Sah), lễ chận nguồn (Kap hlâu Krong).
Bai Kap Palay: Kinh tụng trong lễ cầu an và tống khứ ôn dịch cho cả làng xóm.
Trong thiên chức của Tu sĩ Bà La Môn, có lẽ lúc hành lễ về tang chế liên quan đến người quá cố là tối ư quan trọng làm thế nào để cho người quá cố được về với tổ tiên với thế giới bên kia thay vì xuống địa ngục; làm thế nào để người đã chết đi không quây trở lại phá phách những người trong gia đình, trong dòng tộc còn sống? Ví dụ làm cho người thân phải ốm đâu, bệnh tật kể cả bắt họ phải chết đi. Do đó vai trò các vị Tapah vô cùng quan trọng đối với hệ thống tâm linh của xã hội CHĂM Bà La Môn. Thật ra quan niệm trên dần đà sẽ bớt đi đối với giới trẻ, mỗi ngày một văn minh hơn.

Tu sĩ Bà La Môn CHAMPA CÓ GIỐNG BÀLAMÔN ẤN ÐỘ KHÔNG?

Về giai cấp xã hội: Tu sĩ Bà La Môn Chăm là giới tăng lữ thuộc giai cấp hàng đầu coi về tế tự, giống như giai cấp tăng lữ Bà La Môn Ấn Ðộ là giai cấp đầu tiên của xã hội Ấn Ðộ.
Tu sĩ Bà La Môn Chăm cũng lo thờ phượng và cũng nhập thế như giới tăng lữ Ấn Ðộ: nghĩa là vẫn lập gia đình và vẫn lo hành đạo tuy nhiên tu sĩ Bà La Môn Champa không có đi hành hương tại các thành phố thiêng những nơi linh thiêng như tu sĩ Ấn Ðộ.
Tu sĩ Bà La Môn Champa không chủ trương thoát tục, vô gia cư; không chủ trương sống khất thực, không vào rừng ẩn cư ở giai đoạn sau cùng của cuộc đời với mục đích để chuẩn bị giải thoát như tu sĩ Ấn Ðộ.
Tu sĩ Bà La Môn Champa vừa nhập thế vừa tu thân để hành đạo, để được tái sanh tốt đẹp hơn ở kiếp sau qua “vòng luân hồi” nghĩa là phải làm tốt ở kiếp này để được tốt ở kiếp sau, chứ không phải chỉ cầu xin ở kiếp này để được tốt ở kiếp sau.
Các tu sĩ Bà La Môn Champa thờ thần Shiva qua hình tượng “Thang Banrach” và trong “thang Banrach” đó có hình tượng “Pô Debita Thwor” của CHĂM đặc trách về Ðạo Bà La Môn Champa dưới hệ thống Thần Shiva.
Trong lễ “Rija Praung” có 1 biểu tượng Linga – Yoni là hiện thân của thần Shiva.
Trong lễ hỏa táng của người CHĂM, có nhà mồ bằng giấy (Thang Thwor) và có hình Bò Thần Nandin để đưa linh hồn người quá cố về với cõi đời bên kia thế giới, đó là lý do các tu sĩ CHĂM không ăn thịt Bò.
Qua những phần trình bày ở trên, Ấn Ðộ giáo hay “Bà La Môn” giáo đã ảnh hưởng sâu đậm vào “đức tin” của các vua Champa qua những hình tượng thờ trong đền tháp và sự ghép tên của các vua vàotên hiện thân của Thần Shiva. Các vua Champa tin rằng ba vị Thần Brahma, Vishnu, và Shiva, nhất là thần Shiva sẽ phù hộ cho nhà vua lãnh đạo và điều hành đất nước, bảo vệ sức mạnh và sự tồn tại lâu dài cho nhà vua và hoàng gia, đem lại sự thanh bình, thịnh vượng cho tổ quốc Champa.
Ðạo Bà La Môn cũng ảnh hưởng đến các tu sĩ Champa về phương diện tế tự, về phương diện nhập thế tu thân để hành đạo và thờ phượng. Tu sĩ Champa cũng được xấp vào giai cấp trên cùng của xã hội Champa giống như tu sĩ Ấn Ðộ đối với xã hội Ấn.
Nguyên lý căn bản thứ ba (Âtman: Tiểu ngã) tức
”Vòng Luân Hồi” của Ấn Ðộ giáo cũng đã ảnh hưởng sâu đậm đến nhân sinh quan vua chúa, tăng lữ, quần chúng Champa, nghĩa là cái “nhân” gieo ở kiếp này là cái “quả” của kiếp sau.
Trong bối cảnh tôn sùng và cúng tế vô số thần linh theo tín ngưỡng bản địa từ xã hội nguyên thủy của Champa, thêm vào “Vòng Luân Hồi” của Ấn Ðộ giáo đã thấm sâu vào tim óc của dân tộc Champa, biến dân tộc này thành những lớp dân ngoan hiền an phận và thụ động lo tích lũy những hành động tốt đẹp của kiếp này để có một cuộc hành trình an bình ở kiếp sau. Chính cái nguyên lý tiêu cực, của “Vòng Luân Hồi” Ấn Ðô giáo này là những lời ru êm ái nhất để cho vạn lớp dân Chiêm kể cả vua chúa đã yên ngủ trong giấc mộng được ăn trái ngọt ở kiếp sau! Cái “Vòng Luân Hôi” của Bà La Môn. Phù hộ kẻ thiện và trừng phạt kẻ ác của thần linh Champa, đã biến người CHAMPA có bản chất lương thiện. Thế mà cũng có những kẻ viết lịch sử cho rằng dân tộc Champa là hiếu chiến, là cướp biển!
Trong giai đoạn ban sơ, tiền nhân Champa có đời sống an nhàn hòa hòa hợp với thiên nhiên, mỗi ngày như mọi ngày trong cảnh đời thảnh thơi nơi làng mạc buôn sóc, nếp sống này đã ảnh hưởng đến tư duy và bản sắc dân tộc Champa.
Trong những giai đoạn đầu lập quốc và xây dựng đất nước, cùng với văn hóa bản địa, với tin ngưỡng dân gian; các hệ thống tổ chức chánh quyền nền tảng xã hội, và niềm tin tôn giáo được vay mượn một phần từ quê hương Ấn Ðộ.
Ðối với Vương Quốc có nhiều thị tộc này, Champa lo ổn định nhân tâm, đoàn kết dân tộc song song với công cuộc kiến tạo đất nước. Khúc hát hoan ca vang vọng khắp thôn trang, buôn sóc từ cao nguyên xuống đồng bằng. Hoa Champa nở rộ trên những nẻo đường đất nước quê hương. Từ vua quan cho đến thần dân cùng chung một tư duy dân tộc, cùng chung một đức tin tôn giáo cội nguồn Bà La Môn; tay trong tay cùng nhau yêu thương đoàn kết xây dựng đất nước Champa và hát khúc hoan ca dưới ánh nắng ban mai huy hoàng của bầu trời Chiêm quốc.

Ngả rẽ TÂM LINH CỦA DÂN TỘC CHAMPA

Như đã trình bày ở trên, đời sống tâm linh của dân tộc Champa là dựa vào tín ngưỡng bản địa với vô số thần linh và cho đến vào thế kỷ đầu sau công nguyên lại có sự truyền bá đạo Bà La Môn từ Ấn Ðộ với ba bị thần tối thượng là Brahma, Vishmu và Shiva tạo thành một hệ thống tâm linh hỗn hợp với quyền năng vô hình chi phối đời sống tam linh của dân tộc Champa, soi đường chỉ lối, phù hộ và che chở cho dân tộc này có đầy đủ tin yêu và nghị lực sống bình yên trên quê hương xứ sở dấu yêu Champa trong suốt quãng đời dài hơn sáu thế kỷ lập quốc. Nhưng rồi cảnh đời lên xuống như nước đầy vơi, khi nắng sớm lúc lại mưa chiều và đến thế kỷ thứ 07 một hệ thống tâm linh khác lại xâm nhập vào Champa dân thưa đất hẹp này đó là Ðạo Phật hay Phật Giáo (9)

Phật Giáo:

Phật Tổ hay là người sáng lập ra Phật giáo là TẤT ÐẠT MA. Ngài sanh tại Kapilavastu (Già Tỉ La) một đô thị phía Bắc nước Ấn Ðộ trong một gia đình quyền quí cao sang thuộc bộ tộc SÂKYA nên thường gọi là Sâkyamuni (Thích Ca Mâu Ni, có nghĩa là nhà hiền triết của bộ tộc Sâkya).
Vì ưu tư trước kiếp sống đau thương của con người: sinh, lão, bệnh, tử nên ngài đã rũ bỏ cảnh sống giàu sang phú quí, giã từ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh, ra đi tìm cách cứu rỗi chúng sinh, lúc còn 29 tuổi đời. Sau thời gian tu thân khổ hạnh nơi chốn rừng sâu nước độc cho đến năm 35 tuổi, ngài đắc đạo và đi du thuyết dọc theo sông Gange (Sông Hằng Hà) và cả miền Ðông nước Ấn để truyền bá đạo giáo của mình. Sau 45 năm du thuyết truyền đạo, Ngài viên tịch vào năm 80 tuổi.
Về giáo lý của Phật giáo gồm có: KHỔ, TẬP, DIỆT, ÐẠO.

KHỔ: đời là biển khổ, sinh ra là khổ, bệnh khổ, già khổ, chết là khổ. Cái gì mình không muốn mà lại đến với mình là khổ. Cái gì muốn mà không đặc được là khổ v.v…

TẬP: Là ước vọng là tham sinh quí tử, là dục vọng, tham lam, tham tiền bạc, tham địa vị v.v…

DIỆT: Muốn diệt khổ phải diệt dục. Diệt được dục là tới được Niết Bàn. Niết Bàn không phải là không gian xa xôi trên Trời mà ngay ở trong lòng người. Khi con người đã diệt được dục vọng ham muốn thì lòng người thoải mái, tâm hồn nhẹ nhàng phơi phới, trạng thái này chính là Niết Bàn.
ÐẠO: Không đắm xây lạc thú, không tự ép xác khổ hạnh, không lôi cuốn bởi dục vọng mà phải giải đi thực tiễn gọi là Trung Ðạo.
Phật giáo đã tạo cho tín đồ của mình một lòng từ bi vô lượng, vô biên. Tín đồ Phật giáo phải biết trân trọng thương quí đời sống của người khác dù người đó giàu sang hay nghèo hèn. Riêng các tu sĩ đặc biệt nhưng khất sĩ phải sống trong chay tịnh tuyệt đối. Phải công nhận sự nghèo khổ, phải tha thứ cho kẻ thù. Trong khi đạo Bà La Môn đặt căn bản của mình trên sự phân chia giai cấp thì Phật giáo đã rộng đường giải thoát của mình cho tất cả mọi chúng sinh. Phật giáo cũng có triết lý luân hồi nhân quả giống như “Vòng Luân Hồi” của Ấn Ðộ giáo, do đó hai tôn giáo này dung hòa với nhau và không loại trừ nhau.
Phật giáo đã truyền bá vào Champa ra sao?
Như trên đã nói: Theo sử liệu Trung Hoa được nhà nghiên cứu cổ học Maspero cho rằng: Phật giáo vào Champa hồi thế kỷ thú 07, và cũng theo Maspero, năm 605 Tướng Lưu Phương của Trung Hoa đã đem quân bao vây và đánh phá nước Lâm Ấp là tiền thân của Champa đã cướp bốc của cải, thu lượm chiến lợi phẩm và tịch thu 1350 pho sách của kinh Phật và sách chính sử Champa.
Nhà nghiên cứu khoa học I-Tsing cũng cho rằng Champa là một trong các quốc gia tôn sùng học thuyết Phật Thích Ca.
L.Finot đã nghiên cứu về bia Võ cạnh Nha Trang, đã loan báo rằng: những vị vua Champa dựng bia Phật giáo là nói lên sự thấu hiểu được nỗi đau khổ của người và nói lên lòng hy sinh cho tha nhân, theo lời dạy của Phật pháp. Do đó mặc dù những di tích và bia ký Phật giáo ở Champa không nhiều và đồ sộ cùng khắp đất nước như Bà La Môn giáo; nhưng, những di tích và bia ký sau đây chứng tỏ Phật giáo một thời đã hiện diện trên đất nước Champa mà dư âm của Ánh đạo vàng còn văng vẳng đến ngày nay:
Tu việnn Ðồng Dương Quảng Nam là một tu viện quan trọng của Phật giáo Ðại Thừa ở Ðông Nam Á vào thế kỷ IX-X và là một trung tâm nghệ thuật Phật giáo lớn nhất của Champa. Vào năm 1901, L. Finot đã công bố 07 di tích Phật giáo ở Ðồng Dương (trong 07 hiện vật này có 03 tượng Phật để ở Viện bảo tàng Sàigòn, bốn (04) tượng còn lại ở Viện bảo tàng Guimet Pháp Quốc.
Di tích Ðại Hữu ở Quảng Trị là một tượng Phật bằng Ðồng cao 0,445 khuông mặt mang đường nét CHĂM (theo công bố của L.Finot và Goloubew).
Ngoài ra, vua Jaya-Simhavarman có dựng bia nói về việc thành lập ngôi đền Phật giáo mang tên Rata-Lokesvara để thờ vị thần Lokesvara.
Tại Bình Ðịnh có một tượng Bồ Tát Quan Âm bằng đồng mang chứng tích Phật giáo Ðại thừa ở Champa. Cũng ở tại Bình Ðịnh có một tượng Phật bằng đồng bốn tay, cao 0,64, có niên đạo từ thế kỷ VII-X mang đường nét nghệ thuật điêu khắc CHAMPA, hiện nay để tại Bảo tàng viện lịch sử Sàigòn.
Tại Quảng Khê các nhà khảo cổ cũng tìm thấy một cái đầu của tượng Bồ Tát và một tượng Phật có niên đại từ thế kỷ IV-VI là những tượng mang đường nét điêu khắc của Champa.
Bia Ðồng Dương Quảng Nam thuộc tu viện Ðồng Dương khắc chữ Sanscrit nói đến Vua Sri-Yaya Indravarman có xây một ngôi đền và một tu viện Phật giáo vào năm 875; trong ngôi đền này thờ luôn cả Ðức Phật và Thần Shiva.
Bia Bakul Phan Rang tại làng Chung Mỹ (Palay Balachong) có 9 dòng chữ Phạn (Sanscrit) và 07 dòng chữ CHĂM cổ có niên đại: 829 nói về đời vua Vikratavarman III, có con của một vị Thượng Thư của triều đình tến là Sthavira-Buddhanir vana đã xây hai tu viện và hai ngồi đền thờ Ðức Phật và Thần Shiva.
Vua Indravarman II theo Phật giáo, ngài đã có công xây dựng một thủ phủ nguy nga lộng lẫy nhất của Vương triều Indrapura tại khu vực Ðồng Dương Quảng Nam. Vua Indravaman II là một người đức độ lên nắm ngôi vua chứ không phải cha truyền con nối. Do đó trước khi băng hà, vi tôn thờ đạo Phật nên ngài đã nhận Thụy hiệu: Paramabuddhaloka. Ngữ căn “Buddha” có nghĩa là Phật; điều này cho thấy nhà vua nghĩ rằng ông ta đã tu hành ở kiếp trước nên kiếp này được trở thành một Quốc Vương.
Qua những di tích, bia ký đã được các nhà khoa học nghiên cứu, khảo cổ xác định cho thấy Phật giáo quả thật đã len lỏi vào triều đình Champa cùng với Bà La Môn giao.
Cả hai tôn giáo này đều có triết lý luân hôi giống nhau nên chẳng những không loại trừ nhau mà còn dung hợp với nhau để cùng tồn tại trên đất nước Champa. Khuynh hướng dung hòa này là một đặc trưng của dân tộc Champa đối với tôn giáo từ vua, quan triều đình cho đến hàng thứ dân.
Tuy nhiên, nhìn chung dường như Phật giáo ảnh hưởng sâu đậm vào một số vua quan trong giai đoạn nào đó của sự hiện diện Phật giáo, nhưng chưa thấy có những di tích và sắc nét cụ thể để chứng tỏ rằng Phật giáo cũng ảnh hưởng sâu rộng đến các từng lớp dân chúng Champa như Bà La Môn giáo.

HỒI GIÁO (ISLAM)

Islam là một tôn giáo tôn thờ đấng tạo hóa Allali, xuất hiện từ thế kỷ 7 tại vùng đất Ả Rập Sau Di, Trung Ðông ngày nay. Muhammad người Ả Rập, sanh năm 570 T.L được đấng Allah cử làm Thiên sứ của đạo ISLAM. Thiên kinh Qur’An làm căn bản đức tin của Muslim và được Thượng Ðế toàn năng ban xuống cho trần gian qua một số Thiên sứ, trong đó có vị Thiên sứ sau cùng là Muhammad cho đến ngày tận thế.
Theo đức tin Islam, mỗi Muslim đều phải chịu trách nhiệm mọi hành vi của mình trước đấng Allah và duy nhất không qua một trung gian nào khác. Người Musliru phải biết rõ việc hatal (được làm) và điều haram (những điều không được làm). Islam qui định việc đạo và việc đời phải được gắn liền với nhau (08).

Thời điểm du nhập Islam vào Champa:

Trong cuốn la Royaume đe Champa, G. Maspero có đề cập đến Ed Huber đả soi sáng thấy trong sử Tàu đời nhà tống có ghi rằng “ở Champa có giống trâu núi, không dùng vào việc cày bừa chỉ giết để tế quỉ”(09). Trước khi giết con trau, vị thần cúng phải đọc thần chú “A La Hòa Cập Bạt”, nghe tương tự như công thức chữ Ả Rập: “Alluha Akbar” có nghĩa là “Thượng đế vĩ đại”, đó là một câu kinh của người Muslim đọc lên trước khi giết hay làm thịt một con vật. Từ điểm này Ed Huber suy diễn ra rằng: Có lẽ đã có người CHĂM theo Hồi Giáo từ đời nhà Tống (13) vào thế kỷ thứ 10. Quan điểm này cần phải được soi sáng lại, nhiều tác giả không đồng ý; vì Islam là một tôn giáo tôn thờ đấng tạo hóa duy nhất mệnh danh là Allah. Ðạo Islam không cúng tế quỉ thần hay thần linh nào hết. Do đó việc giết trâu để tế quỉ hay thần linh không đúng với đức tin của Muslirne. Hơn nữa nếu có người Champa theo Hồi giáo từ thế kỷ 10, mà Hồi giáo lúc đó đã đủ mạnh để lan rộng nhanh, thế thì tại sao không có những dấu tích giáo đường (masjid) và sắc nét lớn nào lưu lại ít ra tại Panduranga? Hơn nữa sau thế kỷ X, các đền tháp vẫn còn tiếp tục xây lên, theo kiến trúc và điêu khắc Ấn Ðộ.
Theo vài chứng tích cổ học: một bia ký có niên đại năm 1039 và một bia ký khác … vào năm 1025 là hai mộ bia viết bằng chữ Ả Rập và được P. Ravaisse dịch ra và lý giải rằng khoảng giữa thế kỷ 10 đã có một số người ngoại quốc đến làm ăn buôn bán ở Champa và được dân Champa cho cư trú.
P.Y. Mauguin cũng nêu lên có một cộng đồng Hồi giáo nước ngoài có cư trú ở nước Champa vì sinh kế. Mauguin cũng nói rằng: ở vùng Quảng Ðông Trung Quốc đời nhà Tống, có những gia đình Hồi giáo gốc Ả Rập mà trước đó đã từng sống ở Champa (10)
Tuy cộng đồng Hồi giáo góc Trung Ðông nêu trên, có quan hệ với cư dân Champa, nhưng theo tác giả Mauguin, Hồi giáo chưa có thể ảnh hưởng đến văn hóa và đức tin cội nguồn CHĂM. Mauguin quan niệm rằng khi nào vua quan triều đình và một phần đáng kể dân chúng cùng thuận theo đức tin Islam, lúc bấy giờ Champa mới được Hồi giáo hóa (11). Và như lịch sử đã cho thấy, đến tiền bán kỷ thứ 15 Champa vẫn còn mạnh về chánh trị và quân sự, cũng như mọi sinh hoạt tâm linh, văn hóa, kiến trúc đền tháp v.v…. vẫn còn mang đậm sắc thái cội nguồn từ thời lập Quốc nguyên thủy, mặc dù trước đó Phật giáo đã len lỏi vào triều đình Champa, vua Indravarman II đã theo Phật giáo. Hơn nữa từ thế kỷ XII đến thế kỷ XV, nền thương nghiệp hàng hải Champa khá phát triển nên đã từng giao thương với Indonesia, Malysia, Malacca … là những quốc gia Hồi giáo đang giữ vai trò ưu thế, nhưng Champa chưa chuyển đổi tư duy và cũng chưa hề thay đổi đức tin.
Cho đến giữa thế kỷ 17 (16) theo Mauguin, Champa mới được Hồi giáo xâm nhập với một mức độ đáng kể. Như vậy, môi trường và hoàn cảnh xã hội Champa lúc đó ra sao khiến cho một số dân chúng rời cội nguồn để tiếp nhận tôn giáo Islam? Theo Maspero và Mauguin những nhà khoa học kỳ cựu này cho rằng: đây là giai đoạn dầu sôi lửa bỏng, vô cùng khó khăn của giai đoạn lịch sử đất nước Champa (17). Chiến tranh và máu lửa tàn khốc.
Cũng chính giai đoạn khốc liệt này, dân tộc Champa lại bắt đầu có một ngả rẽ tâm linh, một bộ phận dân tộc lại thay đổi.
Cũng chính giai đoạn khốc liệt này, dân tộc Champa lại bắt đầu có một ngả rẽ tâm linh, một bộ phận dân tộc lại thay đổi đức tin để rời tâm linh cội nguồn Bà La Môn theo Hồi giáo giữa lúc Vương Quốc ngày càng đuối sức để đương đầu với Ðại Việt và tình hình kinh tế, chánh trị và nhân tâm rối ren.
Trước ngả rẽ tâm linh này, tạo nên hai sắc thái khác biệt trong hệ thống tâm linh vốn thuần nhất trong xã hội Champa từ trước đến nay (mặc dù có Phật giáo nhưng đã dung hòa lại được. Một hệ thống tâm linh cũ với tín ngưỡng dân gian tôn thờ vô số thần linh, cùng với hệ thống tâm linh mới là Hồi giáo chỉ tôn thờ đấng tối cao mệnh danh là đấng Allah, do đó mâu thuẫn về đức tin quần chúng lại xẩy ra, khiến cho chan hòa huyết lệ với nhau và tình đoàn kết dân tộc bị phân rẽ trong đớn đau dày vò.
Ðể ổn định nhân tâm và tạo một sức mạnh đoàn kết dân tộc vua Po Romé phải dân tộc hóa hai hệ thống tâm linh Ấn giáo và Hồi giáo thành một hệ thống tín ngưỡng riêng của dân tộc Champa gồm có Awar và Ahier, đồng thời kết hợp hài hòa hai tín ngưỡng tôn giáo được dân tộc hóa này cùng với văn hóa bản địa truyền thống, thành một nền văn hóa mới gọi là văn hóa Panduranga-Champa.
Ðồng thời vua Po Romé phải vượt đại – Dương đi qua Kelantan ở Mã Lai để tìm sinh lộ cho đất nước Champa, nhưng không kịp nữa, định mệnh đã xuống tay một cách phủ phòng, tàn nhẫn và nhanh chóng, sau cùng phải sụp đổ hoàn toàn vào năm 1832.
Nền văn hóa Panduranga – Champa bao gồm Awar, Ahier cùng với văn hóa cội nguồn truyền thống Champa cho đến ngày nay vẫn còn được dân tộc Champa tại vùng đất Panduranga cũ cưu mang và trân trọng; họ sống co cụm với nhau êm ấm trong tình nghĩa chủng tộc ruột thịt, trong nền văn hóa cội nguồn niên viễn và ôm ấp những trang sử cũ vàng son của dân tộc, nuối tiếc một tổ quốc thân yêu đã mất trên chính trường thế giới nhưng vẫn còn trong não trạng, trong ký ức của vạn lớp dân CHĂM, và xót xa cho những người đồng chủng, cùng màu da cùng dòng máu, sống lang bạc, ly tán đến một số quốc gia Ðông Nam Á, và trong mấy thế kỷ trôi qua học còn chút gì để nhớ để thương đến cội nguồn của chính họ hay không?

IV. VĂN HÓA CỘI NGUỒN CHAMPA LÀ VĂN HÓA CỦA MỘT CƯ DÂN MẪU HỆ

Từ trong quá khứ xa xâm, theo truyền thuyết, dân tộc Champa tôn xưng Nữ thần Pô Inư Nưgar là “Thần mẹ của xứ sở”, người đã khai sáng ra giang sơn gấm vóc của dân tộc Champa. Pô Inư Nưgar là nữ thần khai hóa dân tộc Champa, dạy cho họ biết phép trị nước an dân, biết phương cách sản xuất lúa CHIÊM, lúa nước, biết cách dẫn thủy nhập điền để phát triển kinh tế và cách thức trồng bông dệt vải, mang đến cho dân tộc Champa một cuộc sống ấm no sung mãn.
Ðể nhớ công đức của Nữ Thần Pô Inư Nưgar, dân tộc Champa đã dựng xây đền tháp tại nhiều nơi để thờ phụng nữ thần. Ðặc biệt tại Nha Trang trên đồi xinh đẹp gần cầu Xóm Bóng có con sông viền ngang chân đồi, các vị vua Champa ngày xưa đã xây thánh địa Nữ thần “Pô Inư Nưgar” để thờ phượng; đây cũng là công trình văn hóa kiến trúc nguy nga của dân tộc Champa, một di sản của tiền nhân mà bất cứ người Champa nào cũng phải trân trọng, phải bảo tồn ít ra trong cõi lòng của mình. Có thể chăng vì là nhân vật đầu tiên khai sáng ra non sông Champa là một nữ vương nên dân tộc Champa từ trong quá khứ của cội nguồn, đã đón nhận chế độ mẫu hệ và còn kéo dài đến ngày nay.
Trong sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Champa, qua hơn hai trăm năm thăng trầm của lịch sử, biết bao vật đổi sao dời, biết bao cảnh “tang điền biến vi thương hải”, nhưng chế độ mẫu hệ CHĂM đến nay vẫn không hề thay đổi.
Trong mọi sinh hoạt gia đình, người phụ nữ CHĂM luôn luôn giữ vai trò chủ yếu: trong hôn nhân, trong tang lễ, trong tế tự, trong vấn đề quản thủ tài sản lẫn con cái trong gia đình.
Ðối với người đông phương, vấn đề quan hôn tang tế, là những điều quan trọng đối với mỗi con người trong cuộc sống và cũng là những hình ảnh sắc thái văn hóa truyền thống của một dân tộc, cần được cưu mang gìn giữ, đối với dân tộc Champa, sắc thái truyền thống ấy được phản ảnh rõ rệt hơn trong yếu tố: “mẫu hệ”.
Trong hôn nhân: người con gái lớn lên đến tuổi cập kê, muốn lập gia đình, thì người phụ nữ chủ động trong việc hôn nhân; hỏi chồng, cưới chồng về nhà mình. Con cái sanh ra nhận bên “mẹ” làm nội, mặc dù ngày nay mấy đứa con vẫn lấy họ Cha như người Việt Nam.
Trong đời sống gia đình, mặc dù người chồng làm việc cực nhọc lam lũ để mưu tìm vật chất của cãi, nhưng người vợ vẫn là người quản lý tài sản, nhà cửa, ruộng vườn tiền nông v.v. . . Trong trường hợp hai vợ chồng ly hôn, tất cả con cái đều ở với mẹ. Gia sản chung của hai vợ chồng đều giao lại cho vợ quản lý và giao lại cho người con gái trong gia đình. Ngươi đàn ông ra đi trong hai bàn tay trắng.
Ðối với tang lễ trong gia đình đều cho người đàn bà (vợ) đảm đang, quán xuyến mọi việc vì người chồng là người ngoài họ tộc, không được quyền điều hành những vấn đề liên quan đến công việc thờ cúng, tế tự bên vợ. Nếu chẳng may người chồng qua đời, người vợ, sau khi lo tống tángt cho chồng, thi hài ông ta sẽ được an táng bên nghĩa trang của thân mẫu ông ta. Vì trong chế độ mẫu hệ không những áp dụng cho người còn sống, mà ngay khi qua đời cũng thực hiện theo chế độ mẫu hệ. Có nghĩa là khi mới lọt lòng mẹ, đứa bé nằm ngay bên cạnh mẹ, nên khi chết đi cũng phải trở về ngay bên cạnh mẹ chung một nghĩa trang tộc cho mẹ.
Trong tế tự đền đài, đình miếu hoặc những lễ hội liên quan đến cộng đồng làng xóm, người đàn bà trong gia đình đều có trách nhiệm lo tiền bạc gạo thóc, vật dụng đem đến đóng góp chung với cộng đồng để lo thực hiện việc lễ hội dân gian. Về tế tự tổ tiên, ông bà, tiền nhân mang ý nghĩa sâu xa của nó là tỏ lòng nhớ ơn sanh thành và lưu truyền nòi giống cho giòng tộc, cho gia đình cũng như cho dân tộc của chính quốc gia đó.
Nói tới chế độ mẫu hệ, có một số người nhận định rằng: đó là một chế độ xã hội hoặc gia đình mà người đàn bà có đủ mọi thứ quyền; quyền làm chủ gia đình, quyền quản thủ tài sản, con cái, quyền chánh trị, quyền xã hội, quyền chi tiêu tiền bạc của ông chồng làm ra v.v. . . Nhưng trên thực tế các nhà xã hội học đều cho rằng: chế độ mẫu hệ, trong đó người đàn bà chỉ có quyền hành trong gia đình với chế độ mẫu hệ Champa: nghĩa là người phụ nữ (người vợ trong gia đình) lo cai quản chuyện gia đình trong khi người đàn ông có trách nhiệm và quyền hạn đối với xã hội với quốc gia dân tộc mà người phụ nữ Champa không được nhúng tay vào.
Ðây chỉ là một sự phân công hợp lý mà phía đàn ông và đàn bà Champa đều không ai phàn nàn, oán trách hoặc cảm thấy bị thua thiệt.
Với quyền hành chánh trị, quyền bính quốc gia trong tay người đàn ông (vua chúa quan quyền trước đây của triều đình đất nước Champa) họ muốn làm cái gì cũng không ai cản ngăn được, thế mà những đàn ông Champa vẫn để cho chế độ mẫu hệ đứng vững trong xã hội Champa, phải chăng đó là “bản sắc văn hóa độc đáo” của dân tộc Champa có một triết lý sống khoan nhượng, ôn hòa và hy sinh cho người thân yêu bên cạnh mình để nếp sống gia đình, xã hội trong ấm ngoài êm.

V. Y PHỤC CHAMPA

Ngày nay trong cuộc sống hòa hợp với xã hội văn minh này, không chỉ riêng dân tộc Champa mà ngay cả người Việt, người Tàu, Nhật v.v. . . cũng không ai hoàn toàn còn giữ được lối ăn mặc của tổ tiên ta từ mấy thế kỷ về trước. Từ khi Pháp đô hộ Việt Nam, phong trào Ấn hóa về cách phục sức đã xâm nhập vào xã hội Việt Nam dĩ nhiên trong đó có cả dân tộc CHĂM hiện nay và các nhóm dân tộc thuộc ngôn ngữ Nuu Ðảo với CHĂM ở Tây Nguyên. Tuy nhiên đối với dân tộc Champa hiện nay, các em học sinh, sinh viên hay những người công chức thì mặc đồ Âu Tây, nhưng những người ở nhà nhất là phụ nữ CHĂM luôn luôn mặc chăng và áo dài CHĂM muôn thuở, nhìn cách ăn mặc, đi từ xa, ta biết họ là người CHĂM ngay.
Riêng đàn ông CHĂM cở trung niên mà không phải là công chức, thầy giáo v.v. .. thì mặc quần áo “bà ba” như người Việt; Tuy nhiên nếu có lễ hội CHĂM thì họ có khuynh hướng ăn mặc theo lối cổ truyền dân tộc CHĂM. Coi các vị chức sắc tôn giáo, các thầy tế tự, hiến tế dù Bà La Môn hay Bà Ni họ luôn luôn ăn mặc theo lối cổ truyền về đạo giáo như cả ngàn năm trước đây không hề thay đổi. Nói tóm lại ngươi CHĂM ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy Việt Nam ngày nay họ vẫn còn giữ y phục truyền thống dân tộc, song song với phong tục tập quán, ngôn ngữ chữ viết cội nguồn của họ dù bất cứ tôn giáo nào: Bà La Môn, Bà Ni hay Islam. Riêng những người CHĂM theo đạo MusLim ở những nơi khác như CamBốt, Mã Lai, Thái Lan v.v. . . thì họ ăn mặc giống như Mã Lai, Ấn Ðộ, Ả Rập . . ., nếu họ không nói chuyện thì có lẽ không biết họ là người CHĂM.

Y phục người CHĂM:

Nam giới:
Mặc chăng, gọi là “bek khănh”, là một tấm vải rộng trên dưới một mét, chiều dài gấp 1/5 lần vòng bụng. Khi mặc chăng người ta gấp hai mép của chăng cuộn quanh người ra phía hông bên mặt, xếp lại hai đến ba nếp vừa ôm chặt vòng bụng, gấp cạp váy cuộn vào trong. Sau đó dùng một thắt lưng gọi là “Talay Khănh” dệt bằng chỉ màu quấn buộc lại và mối của “Talay Khănh” được thả chùng xuống phía trước. Cái chăng “Khănh bek” này luôn luôn là màu trắng hay màu mở gà.
Mặc áo “Ao Lakay” là loại áo ngắn rủ xuống đến mông, phía trước có đường xẻ và đinh khuy; vạt trước hai túi áo. Cổ nó hình tròn, tà áo hai bên sườn được xẻ dài khoảng một gang tay.
Ngoài ra áo đàn ông CHĂM là chức sắc tôn giáo như Pasêh, Tapăh (Bà La Môn) hay Pô Char bên Bà Ni thì mặc áo màu ở dưới mép chăng tùy theo thứ bậc tôn giáo của chức sắc đó.

Y phục nữ giới:

Phụ nữ CHĂM mặc chăng đủ màu nhưng chăng mặc để cúng lễ thì phải màu trắng; Mặc áo “Ao tăh”. Chăng phục nữ CHĂM gọi là chăng mở, là loại chăng quấn bằng một tấm vải mà hai mép vải không khâu dính lại. Còn chăng “Kín” là loại chăng hai mép được khâu dính lại thành hình ống tròn. Mỗi khi mặc, cạp chăng được xếp nếp lại và lận vào bên trong giữ cho chặt eo hông, và phụ nữ CHĂM mặc chăng không có giây thắt lưng như đàn ông và chăng thường buôn chùng xuống gót chân.
Áo phụ nữ CHĂM là loại áo dài không xẻ vạt, mặc chui đầu vào gọi là “Ao Loak” , không có nút áo. Áo phụ nữ CHĂM đủ màu: Chàm, xanh, lục, hồng, tím, trắng. Lúc sinh hoạt hằng ngày người phụ nữ CHĂM thường mặc áo: “Ao Koh”, áo mặc trong ngày lễ hội hay cúng tế gọi là “Ao Săh”. o dành riêng chó bà Bóng khi hành lễ hay khi múa lễ Rijà gọi là “Ao CHĂM”. Phần thân áo hơi rộng, ống tay áo bó hơi sát vào cánh tay.
Cấu tạo áo phụ nữ CHĂM gồm 4 mãnh vải ghép dọc theo chiều đứng của thân người, hai phía sau, hai phía trước, ngoài ra ở hai bên sườn còn có hai mãnh nhỏ ghép lại. Cổ áo phủ nữ Chăm có nhiều hình: hoặc lá trầu, quả tim, hình tròn. Ngày nay giới trẻ mặc áo với cái “cổ áo” được khoét rộng hơn để có thể thấy được sợi giây trang sức quanh cổ. Phụ nữ CHĂM thường mặc áo lót bên trong có giải dây vải buộc qua vai và vòng qua phía sau lưng.

VI. KIẾN TRÚC VÀ ÐIÊU KHẮC CỘI NGUỒN QUA NHỮNG ÐỀN XƯA THÁP CŨ

Ðây, những tháp gầy mòn vì mong đợi,
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian.
Chế Lan Viên

Trên lãnh địa của Vương Quốc CHAMPA cổ kính đã xẩy ra quá nhiều cuộc chiến tự ngàn xưa giữa Champa với Trung Hoa, Chân Lạp, Java, Mông Cổ và Ðại Việt. Kế đến là những cuộc chiến cận đại như Trịnh Nguyễn phân tranh, chiến tranh Việt Pháp, cuộc chiến ý thức hệ Nam Bắc Việt Nam cùng với sự xói mòn của thời gian do tác động môi sinh vùng nhiệt đới gió mùa: nắng sớm mưa chiều, phong ba bảo táp, đã khiến cho những công trình văn hóa kiến trúc và điêu khắc cội nguồn của dân tộc CHAMPA huy hoàng và rực rỡ như: cung điện đền tháp, thành quách, thánh địa miếu đường, lối cũ đường xưa . . . đều không còn nguyên vẹn. Một số đã hoang tàn đổ nát, chôn vùi trong lòng đất qua bao lớp bụi thời gian, hoặc chỉ còn những phế tích loang lỗ, hoặc ẩn sâu trong rừng rậm, cây cối dây leo vay quanh phủ kín. Một số còn lại, mặt hướng về phía đông, đứng sừng sửng trên các ngọn đồi, dọc miền duyên hải Trung Phần Việt Nam, như cô đơn trầm mặc, dù cho nắng rọi mưa sa, nhưng không chut lời than vản, như thầm nhủ cho hậu duệ CHAMPA, còn biết đến cội nguồn với sự trân trọng và một chút kiêu hãnh cho nền kiến trúc và điêu khắc cội nguồn của họ. Sự hiện hữu của những đền tháp cổ này cũng là những chứng tích lịch sử để nói lên một giai đoạn xa xưa của hai ngàn năm trước, chất xám của nhân loại được thể hiện trong nền kiến trúc và điêu khắc của dân tộc Champa.
Trong “Tập Ảnh Ðiêu Khắc CHĂM” nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Viện Sĩ Phạm Huy Thông đã phát biểu: “Văn hóa CHĂM dù là tiếp nối văn hóa Sa Huỳnh hay là vượt lên văn hóa Sa Huỳnh, nẩy nở nơi đây trước đó, là một cống hiến xuất sắc vào kho tàng văn hóa Việt Nam xưa và nay”. Theo thiển ý của tác giả viết bài này, văn hóa CHĂM không những cống hiến cho kho tàng văn hóa Việt Nam mà còn cống hiến cho kho tàng văn hóa nhân loại nữa; do đó trong tháng 12-1999 cơ quan Unesco của Liên Hiệp Quốc đã công nhận khu quần Thể Mỹ Sơn (Thánh địa của Vương Quốc Champa cổ) được xếp vào “Thành cổ của thế giới”. Do đó nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước từ cả thế kỷ trước đây và cho đến ngày nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học và nghệ thuật về nền Kiến Trúc và Ðiêu Khắc cội nguồn Champa được công bố, điển hình là hai nhà nghiên cứu khoa học của Pháp: Louis. Finot và Henry Parmentier sớm quan tâm đến Kiến Trúc và Ðiêu Khắc Champa và còn để lại những thành tựu của công trình khảo cứu, sưu tập có giá trị, đặc biệt là các danh mục thống kê di tích văn hóa Champa, các đền tháp, bi ký, hiện vật chạm khắc, các ảnh chụp kiến trúc Champa vào đầu thế kỷ, các bản vẽ kiến trúc đền tháp Champa rất công phu và tỉ mỉ.
Khoa kiến trức và điêu khắc đền tháp và bia ký Champa khởi thủy từ thế kỷ IV (theo ghi nhận tấm bia ký tìm thấy ở Mỹ Sơn xác định thời gian khởi thủy này) tại Thánh Ðịa Mỹ Sơn cho đến thế kỷ XVI thời vua Pô Romé được gọi là Kiến Trúc và Ðiêu Khắc cội nguồn bởi vì những lý do sau:
Phần kỹ thuật và nghệ thuật tương tự như nhau trong suốt chiều dài của lịch sử: đều xây bảng gạch, giữa hai viên gạch không có hồ ở giữa, tháp nào cũng hướng về hướng đông, kỹ thuật trong và ngoài tháp cũng giống nhau, nhất là Tháp nào cũng có sự hiện diện của Thần Shiva một biểu tượng tâm linh cội nguồn, do đó các đền Tháp từ thế kỷ 16 trở về trước đến thế kỷ IV gọi là văn hóa đền tháp kiến trúc và điêu khắc cội nguồn. Từ sau thế kỷ 16 cho đến mãi về sau này khoa kiến trúc và điêu khắc Champa được xây dựng theo cấu trúc hổn hợp, ảnh hưởng kiến trúc của Ðại Việt nên không gọi là kiến trúc và điêu khác cội nguồn được chẳng hạn như đền Pô Inư Nưgar, Pô Dam (ở Lạc Trị) Pô Inư Nưgar ở Hữu Ðức, Pô Prak ở Lạc Trị, đền Pô Binthwor ở Nghĩa Bình . . . không phải là văn hóa cội nguồn.
Những tác phẩm kiến trúc và điêu khắc Champa phần lớn được tập trung vào các đền tháp và bia ký; và theo sự kiểu kê của các nhà học giả Pháp vào thế kỷ trước đây cho thấy ở Vương Quốc Champa cổ có 19 khu tháp với nhiều công trình kiến trúc, do đó, ở đây xin trình bày một số kiến trúc tiêu biểu sau đây:

Mỹ Sơn E1 (tại Thánh Ðịa Mỹ Sơn):

Tiêu biểu cho phong cách kiến trúc Champa đầu tiên. Phong cách Mỹ Sơn E1 này đã hư hại sụp đổ, nhưng căn cứ vào bệ đá đang lưu giữ tại Viện Bảo Tàng CHĂM ở Ðà Nẵng, cùng với các phé tích của Tháp Mỹ Sơn E1 tại quần thể Mỹ Sơn, giới nghiên cứu khoa học có thể hình dung ra đặc điểm kiến trúc của Mỹ Sơn E1 như sau:
Nền tháp hình vuông bằng gạch, ở bốn gốc có bốn trụ bằng đá, được điêu khắc chạm trổ rất đẹp và khéo léo. Ở chung quanh tháp chính không có tháp phụ.
Phía trên cửa ra vào có một mi cửa được chạm trổ rất đẹp. Tháp trang trí đơn giản vuông vắn, không có cửa giả như vài tháp khác, hành lang cửa rất hẹp và có những cấp bậc từ dưới đi lên. Ðền tháp làm bằng gỗ và gạch cùng các vật liệu khác.
Trong giai đoạn này đất nước đã thống nhất được hai thị tộc Bắc Nam tức giòng CAU và giòng DỪA, nên bây giờ là một đất nước Champa hùng mạnh và cường thịnh ở Ðông Nam Á. Phong cách Mỹ Sơn E1 tuy đơn sơ nhưng khoáng đạt, tự nhiên và gần với hiện thực hơn. Tuy tư liệu ít nhưng nghệ thuật kiến trúc ở tháp Mỹ Sơn E1 đặc biệt mang bản sắc dân tộc Champa mặc dù có ảnh hưởng nghệ thuật Campuchia và Môn – Dravati đặc biệt là văn minh Ấn Ðộ. Sở dĩ Tháp Mỹ Sơn E1 thoát được sự lai căn là nhờ tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà kiến trúc và nhà điêu khắc Champa, thêm vào đó nữa, các nhà kiến trúc và điêu khắc gia Champa đã chọn cho mình một con đường nghệ thuật riêng vốn đã được thừa hưởng trước đó từ nền văn minh Sa Huỳnh, văn minh Sa Huỳnh chính là nền văn minh dân tộc Champa trước khi được thực sự lập quốc.

DI TÍCH ÐỒNG DƯƠNG:

Vào cuối thế kỷ IX vua Indravarman II đã xây dựng những vi tích đền tháp ở Indrapura là Kinh Ðô của Champa thời điểm này, ngoàira ngài còn xây dựng một số đền tháp ở Quần thể Mỹ Sơn và được xếp vào phong cách Ðồng Dương.
Phong cách Ðồng Dương đều hướng về Phật giáo như các Tu Viện Các Bảo Tháp Phật, các đền thờ Phật, và cùng một số đền tháp thờ Ấn giáo nữa, vì tuy Phật giáo chiếm ưu thế trong giai đoạn này nhưng giữa hai tôn giáo không loại trừ nhau, mà còn dung hợp với nhau.
Nghệ thuật Ðồng Dương có những nhược điểm sau đây:
Phong cách bố cục và các hình thức trang trí không được kháng đạt và thanh nhã, trông một cách toàn thể thì thấy hơi cục mịch, các vòm cửa như chồm hẳn ra ngoài làm cho người xem tưởng chừng như sắp đè sập xuống đất và hình khối của Tháp cũng lộ ra những nhược điểm nêu trên.
Những khoản trống trong tác phẩm điêu khắc trên các vòm cửa bị lấp đầy một loại hoa văn độc nhất, tuy trông có vẻ chắc chắn nhưng quá cứng ngắt và không có vẻ thanh thoát của cửa thiền.
Vì sự ưu thế của Phật giáo, các chuyên gia Champa muốn nhân đó thoát khỏi ảnh hưởng Ấn Ðộ và những yếu tố bên ngoài để hoàn toàn trở về văn hóa Champa từ Tư duy đến hình thức trang trí bên ngoài, do đó một loại hoa văn đã chiếm đầy khoản trống của tác phẩm điêu khắc trông hơi thái quá và một chút cực đoan nếu không nói quá thẳng thừng đoạn tuyệt với những ảnh hưởng cái tinh hoa khác từ bên ngoài.
Nhưng dù sao ở Ðồng Dương người ta vẫn tìm thấy những tuyệt mỹ của kiến trúc và nghệ thuật Champa qua vẻ đẹp bình dị nhưng chắc chắn, chất phát nhưng mang đầy sắc thái văn hóa Champa và đặt biệt cái hùng tráng và uy nghiêm của đền tháp Champa tại Ðồng Dương không bao giờ mất phong cách.
Riêng về ngành điêu khắc cội nguồn Champa bao giờ cũng gắn liền với công trình kiến trúc cội nguồn kể cả các Phù Ðiêu, Tượng Thờ, trừ các loại bia ký. Những tác phẩm điêu khắc riêng biệt của Champa thì chưa khai quật được nhiều vì thời gian và sự tàn phá của con người. Tuy nhiên những gì còn lại mà các nhà nghiên cứu khoa học đã có được, những tấm phù điêu, tượng thờ, những bia ký và đặc biệt cùng hiện diện chung một tác phẩm kiến trúc đã cho lớp hậu sanh này hình dung được những cái sâu sắc trong những nét tư duy, những đường nét gợi hình trong nhân dáng, trong trang trí cũng như hình tượng điêu khắc và rất phong phú vì điêu khắc luôn luôn gắn liền với công trình kiến trúc Champa từ cây cột, từ vòm cửa, từ vòm gạch (như kiến trúc Hòn Lai, có hoa văn trên viên gạch tháp) và cái đáng đề cao nhất của điêu khắc Champa là trông giống như thật: từ cái điệu múa từ cái nhoẻn miệng mỉm cười của Thiên thần Vũ Nữ Apsara.

VII. VĂN HỌC DÂN GIAN CỘI NGUỒN

Ngay từ xã hội nguyên thủy, khi loài người chưa có chữ viết, đều phải dùng ngôn ngữ truyền khẩu của mình để bộc lộ những yêu thương hờn dỗi, những nhớ nhung u-uẩn, những muộn phiền ngọt đắng chua cay trong cuộc sống giữa con người với con người. Ngôn ngữ truyền khẩu cũng nói lên những phương cách xử thế sao cho thuận trên hòa dưới, những kinh nghiệm về canh tác mưu sinh, nghề nghiệp; hay nhắc đến những thăng trầm của lịch sử và những ước mơ của dân tộc. Ngoài ra ngôn ngữ truyền khẩu dân gian còn nói lên nhỏ bé của “cậy sây biết nói” (Pascal) trước sự huyền hoặc của trăng sao, sự mênh mông của vũ trụ, sự hùng vĩ thâm sâu của non cao biển rộng, sự vô tận của chín tầng mây và sự đổi thay bốn mùa của trạng thái thiên nhiên theo một trục quây không ngừng nghỉ bởi một sức mạnh vô hình mà nhân loại chưa xác định được . . . tất cả những thứ đó đều có ẩn hiện trong truyện kể về thần thoại, huyền thoại, giai thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ của dân tộc. Ở đây tác giả muốn nói đến dân tộc Champa, một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng đã có một kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú qua những chuyện thần thoại, truyện ngụ ngôn, cổ tích, và ca dao tục ngữ v.v.. . và ngay từ thế kỷ thứ II, III dân tộc Champa đã biết vay mượn chữ Sanscrit của Ấn Ðộ và trên nền tảng chữ Sanscrit mà đã sáng tạo ra chữ viết gọi là Akhar thrah, để ghi âm tiếng mẹ đẻ tức ghi âm lại ngôn ngữ truyền khẩu nêu trên từ khởi thủy đến nay. Từ đó ta có thể thông cảm và san sẻ được tâm hồn của dân tộc Champa qua ca dao, dân ca; ta có thể tìm hiểu và biết được túi khôn của dân gian Champa qua tục ngữ và hình dung được óc tưởng tượng phong phú cũng như những ước mơ tha thiết của dân tộc Champa được thể hiện bàng bạt qua truyện thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích.

Tâm hồn dân tộc Champa qua ca dao: Ca dao, dan ca là tâm hồn của con người:
Hajan juk glai juk klo,
Mulan Papih mo nhom ao kaday . . .
Mưa đen kịt cả bầu trời
Ðêm làm thuốc nhuộm, nhuộm áo cho chàng . . .

(Những ca dao tục ngữ trong bài này được trích từ cuốn “Văn Học Chăm” của Inrasara). Nàng không thầm trách bóng đêm tối như thuốc nhuộm vì cơn mưa đầy trời, nhưng lại muốn mượn màng đêm tối đen như mực đó để nhuộm áo cho chàng đã nói lên tâm hồn nàng phơi phới như gió xuân, khi yêu thương lòng người luôn luôn nở hoa, mọi việc chung quanh đều đáng yêu và đẹp đẽ cả, đã ói lên một tâm hồn hiến dâng thậm chí muốn hiến dâng đêm tối của đất trời để nhuộm áo cho chàng.
Cim đam di dhan klơu phrluh
Cim mau nưsuh klak dhan mưjwa
Băm con chim đậu trên cành
Chim đi chiến đấu bỏ cành lạnh hoang.
Hai câu thơ đã nói lên một tâm hồn đơn côi trống trải vì chồng hay người yêu hay những trai làng ra đi chiến đấu phương xa để lại cảnh cô đơn hoang lạnh cho phụ nữ hay cho quê hương làng xóm mà qua ca dao đã dùng hình ảnh những con chim trên cành để nhân cách hóa.
Thei thơu ka tian kơu lipa
Nhijơnu par diia mưng thơu ka tian
Lòng ta ai có thấu chăng
Bèo dưới sông mới hiểu tâm tình này
Ðã nói lên nỗi buồn thầm lặng trong lòng vì cảnh đời bèo dạt hoa trôi.
Hajan juk kơu cik khan đung
Ða ka rabbung nhjơp banh hujan
Hajan mai kơu đwơn kah
Da ka taprah gauk cei rabbung.
Mưa đen, em xòe váy bọc
E cho người tình phải giọt mưa rơi
Kẻo mưa giọt lạnh bay rơi trúng chàng
Trang văn chương Việt Nam, ta thấy Nàng Vương Thúy Kiều cũng vì yêu mà phải trèo tường trổ ngỏ để rồi “xâm xâm băng lối vườn khuya một mình” để đến gặp chàng KIM; trong khi đó qua bốn câu ca dao trên tâm hồn của một phụ nữ Champa cũng vì yêu đương mà phải hy sinh chịu sự ướt lạnh để bảo bộc cho người yêu được ấm áp. Qua những câu ca dao trình bày nêu trên ta thấy tâm hồn của dân tộc Champa mang sắc thái của buổi chiều tà, của hoàng hôn bao phủ và mang đầy đức tính hy sinh cho tha nhân.

Túi khôn của dân tộc Champa qua tục ngữ:

Tục ngữ có thể là kho tàng sự từng trải, hiểu biết của tiền nhân Champa đúc kết lại như một lời khuyên như một công thức qua những câu văn ngắn gọn và dễ hiểu về vũ trụ, về nhân sinh v.v. . .
Thay trun ia, thay ka thah
(Ai xuống nước, người đó ướt)
Hamu ia tui kabau, war glai tui athâu.
(Khát nước theo trâu, lạc đường theo chó)
Câu trên có ý nói “người nào làm người đó chịu”, không ai chia sẽ hoặc giúp đỡ mình được, đây là những kinh nghiệm của người xưa về nhân tình thế thái. Khi tốt đẹp, thành công, có lợi lộc thì ai cũng muốn đến gần để chia vui, khen ngợi, khi thất bại chua cay hoặc gặp nạn thì họ tránh xa.
Câu dưới đây là kinh nghiệm người xưa sống nơi thôn làng trong nền văn minh ruộng đồng những gia súc nuôi trong nhà rất khôn và quen thuộc với đường đi lối về của vùng đất cư trú chung qunh làng mạc ruộng đồng.
Về vũ trụ quan:
Mưng ngauk Po Debita, Pak ala anưk adam
(Tạo hóa ngự trên trời, loài ngươi ngụ dưới đất)
Po dơng didwa guk bira
(Trời ngự trên hai bờ vai)
Lingik glaung ralaiy ikan, lingik hajan bơr mưrial=h
(Bầu trời cao lắm cá, ráng hồng tía thì mưa)
Kakah binhwơr khaung, kakah rimaung,
hajan, Kakah ikan angin
(Vẩy trúc thì khô, vằn hổ thì mưa, vẩy cá thì gió)
Nhân sinh quan:
Takrư thơu kapo klơng di halun
Takrư thơu ka aruaik glơng di anưk
Muốn biết chủ hãy nhìn vào tôi tớ
Muốn hiểu người mẹ hãy xem xét bày con
Siaru binai kamưlai dauk dalam
Jlak binai hatail yơu mưl
(Ðẹp người nhưng tâm lại là tâm quỉ
Thâu hình xấu xí nhưng được quí ở tấm lòng vàng)
Hai câu trên đã nói lên nhân sinh quan con người chú trọng đến nhân cách, phẩm hạnh lương tri đạo đức và cái nết đánh chết cái đẹp.
Gang di gru jiơng kra jiơng hava.
(Phản bội thầy sau này thành khỉ thành vượn)
Ataung ia Kada di kkan
(Khuấy nước hãy nghĩ đến cá)
Câu này cũng nói lên cách xử xự về mặt xã hội giữa con người với nhau cần phải biết mình biết người; cũng như câu bình dân Việt Nam thường nói: “đánh chó phải nể chủ nhà”.
Trên đây là những câu tục ngữ nói lên cách sống giữa con người với nhau trong một xã hội.

Truyện cổ:

Nói đến truyện cổ Champa ta có thể nói đến truyện thần thoại, truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn v.v.. .
Truyện thần thoại:
Là những câu chuyện cổ nhân CHĂM đề cập đến các vị thần, các nhân vật anh hùng, nói đến vũ trụ đến nguồn gốc con người như các câu chuyện về Pô Inư Nưgar, truyện “Con gà gáy sáng” truyện “Hằng Nga” v.v.. .
Truyện thần thoại Pô Inư Nưgar: Nguyên là một Nữ Thần từ trên trời giáng thế, thấy dân tộc Champa sống tản mạn nhiều nơi trong cảnh khổ sở đói khát, Pô Inư Nưgar tập trung dân Champa lại thành làng xóm rồi dậy cách làm ruộng, cách đóng ghe đánh cá, cách đốn gỗ làm nhà, cách chăm sóc sức khỏe, tổ chức gia đình theo chế độ mẫu hệ, tổ chức xóm làng thành xã hội lớn rồi khai sáng đất nước Champa. Hiện nay đền thờ Pô Inư Nưgar tại đồi thoai thoải gần cầu Xóm Bóng Nha Trang.
Sự tích “Con gà gáy sáng” nói về sự hình thành vũ trụ.
Ngày xưa Po kuk Parahimuk là đấng sáng tạo ra vũ trụ. Một ngày kia Po Kuk đã sai Thần Iparahimuk cùng với các vị thánh khác xuống trần gian để cai quản nhân loại. Các vị thánh kia say sưa quá chén nên ngũ quên; có quỉ Mưnưmas Sibac Kayong đã lén lấy cây cung và những tên vàng của Pô Kuk và bắn nát hết các tinh tú, mặt trăng mặt trời, khiến quả địa cầu trở nên tối tăm, thế gian hỗn loạn. Ðến khi Po Kuk thức dậy thì không thấy cây Nỏ thần và cung tên vàng nữa. Pô Kuk phải tự nhỗ lông mày làm cây nén để thắp sáng cả thế gian sau đó Pô Kuk triệu tập tất cả các vị Thánh và các đại biểu mọi giới cùng đi tìm mặt trời, mặt trăng, các tinh tú và thắp sáng vũ trụ trở lại. Pô Kuk cùng với đôi gà, vịt vượt đại dương Gà lo gáy sáng báo thức, vịt chở họ đi, và sau cùng tìm được mặt trời, mặt trăng đang ẩn trốn trong Thần Inưrathwal Akmư Liael. Vũ trụ được sáng lại như hoa đăng, trật tự và xã hội loài người được ổn định từ đó.
Ngoài ra còn có những mẫu chuyện thần thoại khác như “Truyện Hằng Nga” có khả năng cải tử hoàn sinh (Bà Mặt Trăng có cây thuốc Thần) v.v.. .
Nói tóm lại, truyện thần thoại Champa là những câu chuyện từ nghìn xưa của cổ nhân để lại nhằm giải thích sự xuất hiện của vũ trụ và nguồn gốc dân tộc; những câu chuyện tuy mang tính chất hoang đường nhưng nó là sản phẩm của tư tưởng tiền nhân Champa là khởi điểm của những gì mà ngày nay hậu duệ của họ đang cưu mang.

Truyện truyền thuyết:
Lịch sử của một số quốc gia Á Châu thường có những truyện truyền thuyết về các dòng giỏi anh hùng dân tộc, nhà vua được truyền khẩu từ đời này sang đời khác. Ðối với dân tộc Champa truyện truyền thuyết về lịch sử đáng ghi nhớ nhất về vua Po Klaung Giray, Po Bin Thuơr và vua Po Rome.
Pô Klaung Girai: Vị vua văn võ song toàn có công lớn lao đối với lịch sử nhân dân Champa nên không thể là vua bình thường và được dân tộc Champa Thần Thánh hóa cho rằng Ngài sanh ra từ bọt biển do mẹ thụ thai khi uống nước Thần. Sanh ra đầy ghẻ lác và được con rồng đến liếm toàn châu thân, rồi ngài trở thành đẹp trai và thông minh tài giỏi phi phàm. Khi chết thì hóa thân về trời người CHĂM gọi là “Naomưrúp”.
Pô Bin Thwơr: Thủ đắc được cây thanh đạo bách chiến bách thắng. Một ngày nọ lúc thua trận, đầu bị rơi lìa khỏi thân, nhưng mà thân vẫn sống; đầu rơi vào tay quân thù, nhưng Ngài vẫn tin tưởng khi về đến quê nhương đầu sẽ nối kết lại với thân và tiếp tục sống. Nhưng khi về đến bãi biển làng Balriya (Bình Nghĩa, Phan Rang), bọn nhỏ chăn trâu chế nhạo thân không có đầu, lúc đó Ngài buồn và ngã xuống chết thật sự? Chỉ là truyền thuyết thôi.
Pô Romé: Lấy công chúa Ðại Việt là có thật trong lịch sử, nhưng quần chúng đã thần thoại hóa rằng: Khi bà Hoàng Hậu gốc Việt này giả đò bệnh và lót bánh tráng nướng dưới chiếu, lăng qua lăng lạ làm bánh tráng bể ra kêu lắc rắc và Bà ta tâu với nhà vua là bị gẫy xương, yêu cầu vua cho đốn cây Kraih tượng trưng cho sức mạnh và thần quyền của tổ quốc Champa, khi cây Kraih đó ngã thì Bà ta sẽ hết bệnh. Vua Pô Romé sai quân lính đốn cây Kraih nhưng đốn hoài không ngã, cây Kraih than vãn cho nhà vua, và phun máu từ thân cây ra giết chết quân lính đang đốn cây Kraih linh thiêng ấy. Vua Pô Romé nóng giận, tự tay mình đốn với nhát búa đầu tiên của vua Pô Romé, cây Kraih phát ra tiếng khóc vã ngã xuống trong giòng máu thắm tươi, rồi từ đó uy quyền và sức mạnh của Vương Quốc Champa bắt đầu sụp đỗ theo cây Kraih.

Truyện cổ tích:
Truyện cổ tích nó không mang tính cách thần thoại, vì thần thoại hay truyền thuyết thường hay nói đến lúc mới bắt đầu khai thiên lập địa cũng như từ khởi thủy nguồn gốc con người do đó mang tính cách thần thoại huyền bí hơn. Còn đối với truyện cổ tích thì gần gủi với thực tế con người hơn vì lúc này xã hội đã hình thành rõ ràng, và truyện cổ tích thường nói đến phản ảnh của bộ mặt xã hội giữa con người với nhau. Tuy nhiên đôi khi những nhân vật trong truyện cổ tích cũng có thể mang tính cách thần thoại nhưng chỉ là vay mượn, thực chất nhân vật thần thoại được vay mượn đó chỉ là con người thế tục. Chúng ta có thể thấy được truyền cổ tích Champa như sau:
Truyện “BLơk Blơng Amư” (cha nói dối): Làm cho Thiên hạ cười khoái chí vì sự tiếu lâm của câu chuyện, vì sự lém lỉnh như anh chàng phiêu bạc giang hồ này khi chàng ta đánh lừa thầy cúng Kadhar (Thầy kéo đàn Kanhi lúc cúng tế) bằng tiệc tùng đãi khách được ngụy trang bằng phẩn chó; hoặc xúi dại Muk Buh (Bà Ðơm) liếm cửa ruồi v.v.. . làm cho thiên hạ phải cười no bụng vì cái tính nghịch kháo khỉnh vô tội vạ của chàng; nhất là chàng ta tuy lém lỉnh cười đùa nhưng cũng khá thông minh đánh lừa được ông “Cai đập” người coi về dẫn thủy nhập điền và cũng là người lén lút dang díu với mẹ chàng, phải bỏ chạy vô rừng, cũng như chàng đã lập kế đuổi người mẹ lang chạ này làm cho thiên hạ hả dạ.
Truyện “CHÚ THỎ TINH RANH”; “CON CỌP VÀ TÊN ĂN TRỘM” thuộc loại cổ tích ngụ ngôn. Qua hai câu chuyện ngụ ngôn này với nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa của dân gian CHAMPA cho ta những bài học về nhân quả, về sức mạnh và trí khôn v.v.. .
Truyện: “JA RABBAH”. “CEI DALIM BARPAK”, “CON ỂNH ƯƠNG”, “BÒ THẦN KAPING” . . . những câu chuyện này đã nói lên kẻ ác phải bị trừng trị, người hiền lương phải được may mắn tốt lành.
Truyện “NAU MƯGRU PABLEI HADIIP” mô tả một “môn sinh” bị sự phụ yêu cầu bán vợ yêu quí của mình để được sư phụ truyền dạy; người môn sinh này vì muốn thành một người trí thức hữu dụng nên chấp nhận lời yêu cầu của sư phụ. Cảm phục ý chí quyết tâm học hành để trở thành kẻ hữu dụng, nên sư phụ đã bãi bỏ lời yêu cầu trên và cho người vợ yêu quí của môn sinh mình được trở về với mái ấm gia đình. Câu chuyện cổ tích này đã nói lên sự thử thách, sự hy sinh và gương đạo đức.
Truyện “CON QUẠ, CON CÔNG, CON DÔNG”:
Qua những truyện cổ tích này dân tộc Champa có thể giải thích được những hiện tượng tự nhiên trong thiên nhiên đã có sẵn nơi chim muôn và thú rừng như màu đen lánh của con Quạ, màu sắc sặc sở óng mượt của lông con Công, màu lốn đốm với da sần sì của con Dông.
Ngoài ra trong truyện cổ tích Champa còn nói đến chuyện con VỊT không ấp trứng chỉ là phần thưởng của sự hy sinh, CHÓ phai giơ một cẳng lên đái là nói đến lòng biết ơn. Da con HỔ vằn vện nhiều đốm màu là do sự ngu xuẩn mà ra v.v.. . Vì sự giới hạn của một đặc san nên không thể viết hết những truyện cổ tích từ đầu đến cuối được.
Tóm lại một vài chuyện cổ tích nêu trên đã cho thấy được một phần văn hóa dân gian Champa từ thời cổ.
Qua phần văn hóa dân gian gồm: ca dao, tục ngữ, truyện thần thoại, truyện truyền thuyết và truyện cổ tích đã được trình bày một cách khái lượt nêu trên đã cho ta thấy được đôi chút văn hóa dân gian nguồn cội và quan điểm của người xưa của dân tộc Champa về vũ trụ và nhân sinh.

VIII. ÂM NHẠC – VŨ ÐIỆU

Âm nhạc là âm thanh tiết điệu, là những cảm xúc hỉ, nộ, ái, ố của tâm hồn. Âm nhạc còn phản ảnh được suy tư, cảm nghĩ những nét thẩm mỹ mang tính chất bản sắc dân tộc.
Âm nhạc Champa gồm có nhạc tình, nhạc dân ca, hát ru, những điệu ngâm Ariya những điệu chài lưới những bài ca nghi lễ về tôn giáo. Nói đến Âm nhạc Champa là nói đến nhạc cụ và các thể loại nhạc.

1/. Những nhạc cụ truyền thống:

Gồm có: Ðàn Kanhi: dùng trong dám tang, trong các đền tháp, trong dịp cúng nhập KÚT và cúng tế tại đền thờ Pô Inư Nưgar Ðàn Rabap cũng tương tự như đàn Kanha trên, nhưng chỉ sử dụng đơn chiếc. Ðàn Rabap được sử dụng các lễ Puis, lễ Payas, lễ Tế Trâu.
Kèn Saranai:
Kèn Saranai thổi bằng hơi, gồm có bảy lỗ chính ở trên và một lỗ phụ ở dưới. Kèn có năm nốt âm chính tương đương với nốt nhạc đồ pha, sol, la rê và dùng trong các lễ hội Rija, lễ tang hỏa táng, lễ trên các đền tháp.
Tùvà (Săng): làm bằng ốc biển, dùng để hành lễ trong đám tang Ahier và dùng trong dịp cúng tế để tẩy uế đất đai.
Trống Basanung: Tròn, bịt da dê, đường kính 0,45m. Chung quanh thân trống có 12 lỗ, có ba âm chính: tắc, tăm, tằm do ôn Mưduôn sử dụng để cúng lễ dân gian nhất là lễ Rija.
Trống Ginăng:
Trống Ginăng làm bằng gỗ trắc hay bằng lăng, cao 80cm, khoét rỗng ở giữa, hai đầu bịt da thú, mặt nhỏ căn da, mặt lớn căng da trâu, trống Ginăng thường dùng trong lễ Rija và các lễ hội dân gian. Thông thường trống Ginăng xử dụng hòa âm chung Pasanưng và kèn Sarnai.
Trống Hagar (trống cái): nhỏ như loại trống cơm Việt Nam, nhỏ hơn trống Ginăng. Loại trống Hagar chỉ để sử dụng rong lễ tang Aluier.
Cheng (chiêng): nhạc cụ gõ bằng đồng, đường kính 0,3m. Dùng dùi gỗ có quấn vải mềm để gõ. Chiêng thường sử dụng chung với trống Ginăng, trống Pasamưng trong lễ Rija, lễ Puis, lễ Pajak, ngoai ra còn sử dụng trong đám tang nhưng không đi chung với trống Ginăng và Parmưng trong trường hợp này.
Tóm lại nhạc cụ truyền thống Champa đã có từ lâu đời có thể nói từ cội nguồn thường dùng cho các lễ hội dân gian tín ngưỡng hơn là phục vụ văn nghệ sân khấu.

2/. Các vũ điệu và nhạc lễ:

Âm nhạc và vũ điệu luôn luôn đi đôi với nhau trong các lễ hội dân gian Champa. Âm thanh các trống kèn cùng với vũ điệu kết hợp lại làm thôi thúc lòng người mau mau đến với lễ hội.
Một số điệu nhạc và điệu múa trong các lễ hội:
Trong lễ Rija gồm có:
Lễ Rija Nưgar là của Palay (làng xóm) diễn ra vào đầu năm nhạc múa vui tươi sôi động, rộn ràng với các điệu nhạc Champa, Chawa, Kachek và đặc biệt là vũ khúc “đạp lữa” Baraham vô cùng sôi động, ôn inh (Thấy bóng) cằm roi để múa, nhẩy đạp tắt đóng lửa trong tiếng kích động và reo hò của mọi người đến xem.
Lễ Rija Prong gồm có các điệu múa: Biyên, Mưrai, Patra uyển chuyển nhịp nhàng và trang trọng. Nghệ nhân xử dụng quạt, khăn, để diễn nhịp điệu.
Lễ nhạc và điệu múa ở Lăng Tháp có tính cách cộng đồng, số đông người múa các điệu vũ: Biyên, Mưrai, Patra cũng giống như lễ Rija Prong nhưng ở đây nhộn nhịp hơn tươi vui hơn và múa nhạc phóng khoáng hơn. Trong lễ nhạc và điệu múa ở lăng tháp, lễ chính thức thì thực hiện trong lăng tháp và người vừa kéo đàn Karhi vừa hát là Ong Gru Kadhar, không có múa nữa. Ông Gru Kadhar hát ngợi ca công đức các vua chúa cùng anh hùng dân tộc đã thần thánh hóa.
Nhạc lễ tang (hỏa táng) của Chăm Bà La Môn; nhạc lễ này vô cùng bi ai buồn thảm vì tiễn đưa người quá cố về bên kia thế giới.
Nhạc điệu dân ca trữ tình:
Nhạc điệu dân ca trữ tình Chăm thường buồn bã và uẩn vì những xúc cảm nuối tiếc quá khứ, những tình duyên cách trở vì tôn giáo hay vì môn đăng hộ đối hay những nhớ nhung ngút ngàn mà không bao giờ tái hợp.
Chính “lời vui khó nói, điệu buồn dễ hay” này mà nhạc trữ tình Champa luôn luôn ai oán thảm não, nghe như đứt ruột.
Ðào Duy Anh, trong Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, ông ta đã nói: “Những cung Nam như Nam Ai, Nam Bình, Nam Xuân có vẽ trầm bi oán vọng hợp với tâm thuật của một dân tộc điêu tàn là dân tộc Chiêm Thành cùng với cảnh non nước dịu dàng ở chung quanh kinh đô.
Trong sách Ðại Việt Sử Ký có ghi rằng: “Ở Triều Lý, có chỉ thị các nhạc công đặt nhạc khúc gọi là “điệu Chiêm Thành, tiếng trong trẻo mà ai oán, thảm thương, ngâm nghe phải khóc. Có lẽ những điệu nhạc cung Nam ai ngày nay là gốc ở đó.
Nhạc Champa chẳng những ảnh hưởng đến nhạc cung đình của Vua chúa Việt Nam, mà còn bay xa đến xứ Phù Tang mà người Nhật gọi là nhạc Rinyugaku là nhạc du nhập từ nước Chiêm Thành tức Champa ngày xưa đượng Hoàng gia Nhật thích thú và chọn làm nhạc Hoàng gia Nhật theo tiến sĩ Pô Dharma trong chuyến viếng thăm Nhật Bản vào tháng 07/2005 vừa qua.

LỜI KẾT

Ðường về nguồn cội CHAMPA được gói ghém vài mươi trang giấy trong giới hạn của một Ðặc San, thật không thể nói lên hết những gì trên lộ trình hướng về nguồn cội, mà ít ra phải được ghi lại trong một quyển sách dày với nhiều hình ảnh minh họa.
Hai ngàn năm trước, và lâu hơn nữa trước công nguyên; vùng đất cực bắc cội nguồn Tượng Lâm, nơi quê hương ngàn đời cách biệt đó, dấu chân xưa, lối mòn cũ, của những cộng đồng cư dân Champa sinh sống cách đây hơn hai ngàn năm, bây giờ đã bị lớp bụi của thời gian vùi lấp, xóa nhòa. Nhưng, núi sông nơi đây vẫn còn đó, như một chứng nhân lịch sử, đã mục kích anh hùng Khu Liên dấy binh dựng nghiệp nước Lâm Ấp với cờ xí rợp trời của muôn dân Champa trong tiếng reo hò, thoát ách nô lệ và sự tàn bạo bởi chế độ phong kiến nhà Hán. Và cũng chính nơi đây, tiền nhân Champa đã lưu lại những sắc nét văn hóa vật chất xa xưa, qua những di tích “mộ chum” mà các nhà cổ học gọi là văn hóa Sa Huỳnh. Từ dấu tích của văn hóa Sa Huỳnh, các nhà cổ học với sự hợp tác và hỗ trợ của nhiều ngành khoa học khác, để lần mò khai quật và xác định niên đại, từ đó góp phần nói lên được cội nguồn của dân tộc Champa.
Trước khi lập quốc, dân tộc Champa sống co cụm nơi vùng Tượng Lâm dưới ách thống trị của nhà Hán. Tuy là dân bị trị nhưng dân tộc Champa không phục sức theo lối dân Trung Hoa, và cũng không theo hệ thống tâm linh của Trung Hoa. Người Champa vẫn ăn mặc theo tổ tiên mình và tín ngưỡng bản địa, thờ, cúng vô số Thần linh và thực hiện những lễ hội dân gian của riêng dân tộc mình.
Sau khi thành lập một quốc gia Lâm Ấp độc lập với Trung Hoa, văn minh và văn hóa Ấn Ðộ đã xâm nhập và ảnh hưởng đến Champa về mọi mặt: văn hóa, tôn giáo, hành chánh v.v.. . Từ đó đã đưa đến những hòa nhập giữa tín ngưỡng bản địa và đạo Bà La Môn, đã định hình nên những sắc thái văn hóa riêng biệt, độc đáo của nền văn hóa cội nguồn Champa. Suốt VIII thế kỷ đầu, tiền nhân Champa xây dựng một Vương Quốc phồn thịnh với những trang sử vàng son của thời đại, và một nền văn minh văn hóa vừa sâu sắc vừa huy hoàng rực rỡ. Dân tộc Champa sống trong sung túc hoan lạc, mặc dầu đầu thế kỷ thứ 07. Trung Hoa do Tướng Lưu Phương chỉ huy đánh phá nước Champa, cướp bốc tài sản, đốt sách vở, sử liệu rồi rút quân về nước.
Tiếc thay vào thế kỷ X, Vương Quốc Champa lại bước vào một khúc quanh quan trọng của lịch sử. Những cơn bão ghê rợn không phải phát xuất từ thiên tai nghiệt ngã, mà từ sâu thẩm của lòng người, Thổi dập vùi vào đất nước Champa, xô đẩy một dân tộc hiền hòa, thiết tha với nòi giống; từng bước lùi dẫn về phương Nam và dồn ép liên tục suốt tám trăm năm cho đến ngày diệt vong. Bao nhiêu thành quách đền đài diện các đã bị phá hủy … Những kinh thành tráng lệ, huy hoàng của một nền văn minh cổ kính, nay chỉ là những phế tích hoang tàn đổ nát. Những chứng liệu về lịch sử, văn hóa, văn minh v.v… đã bị thiêu hủy thành những đóng tro tàn.
Ðối với dân tộc Champa, một số đông bị bắt buộc hoặc sơ sệt vì sự tàn bạo, phải di cư sang nhiều quốc gia lân cận như Nam Dương, Mã Lai, thái Lan, Trung Hoa (Ðảo Hải Nam), Cambốt và hiện nay đã trở thành những công dân của các quốc gia đó, và lâu dần, gần hai trăm năm qua đã sống hội nhập vào dân tộc của các nước dung thân, và những thành phần này dần dần sẽ bị đồng hóa.
Một số còn lại ở vùng đất Khánh Hòa Nha Trang ra đến Quảng Bình đã bị chánh sách đồng hóa của Ðại Việt mang tính cách thúc bách ép buộc, nên đã bị đồng hóa thành người Việt.
Một số khác còn lại ở hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuân, đã trốn sâu vào rừng núi Trường Sơn để ẩn cư; cố tránh những cảnh tượng hãi hùng của chết chốc, những âm vang của đớn đau réo gọi do Minh Mạng gây ra.
Sau khi Minh Mạng chết đi, các vị vua Ðại Việt kế tiếp như Thiệu Trị, Tự Ðức có nhân hậu và đạo đức hơn Minh Mạng rất nhiều đã kêu gọi người CHĂM phải rời rừng núi ra sống ở các thung lũng của những chân núi dọc theo miền duyên hải Phan Rang, Phan Thiết, Bình Tuy; nhất là đến thời Tự Ðức và được sự cứu giúp của người Pháp, nên toàn bộ người CHĂM đều rời rừng sâu và núi cao về sinh sống tại vùng đồng bằng dọc theo quốc lộ 01, ngày nay.
Cho đến giai đoạn Bảo Ðại lên ngôi Hoàng Ðế người Champa dần đà sống hội nhập với dân tộc Việt Nam trong cộng đồng quốc gia. Cũng trong thời điểm này, chế độ Hoàng triều cương thổ được thành lập và đặt trực thuộc nhà vua. Ðời sống các sắc dân Champa ở Tây nguyên tương đối ổn định và an lạc hơn.
Sau này Ngô Ðình Diệm được Mỹ đưa về nước chấp chánh với vai trò Thủ Tướng. Không bao lâu ông Diệm truất phế Bảo Ðại, thay đổi Hiến Pháp lên làm Tổng Thống.
Sau khi xóa bỏ chế độ Hoàng triều cương thổ ở Tây nguyên, Ngô Ðình Diệm manh nha đồng hóa đồng bào thiểu số thuộc các sắc tộc Champa thì đã bị lật đổ và sát hại bởi chính những người dưới tay ông ta. Trước sự kiện này có người cho là luật nhân quả?

Nền Ðệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam và Dân Tộc Champa.

Sau khi Ngô Ðình Diệm bị lật đổ, xóa bỏ nền Ðệ Nhất Cộng Hòa. Hiến Pháp ngày 01/04/1967 ra đời, nền Ðệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam được thành lập. Trong điều 02 và điều 24 của Hiến Pháp nêu trên có minh định rằng: Quốc gia công nhận sự hiện hữu của người thiểu số trong cộng đồng quốc gia Việt Nam. Và quốc gia chủ trương bình đẳng các dân tộc. Từ đó một sắc luật 033/67 ra đời để ban hành qui chế riêng biệt cho đồng bào thiểu số miền Nam Việt Nam (gồm có đồng bào thiểu số miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 như Tày, Nùng, Thái, Mường v.v… và các sắc tộc Champa nhằm thực hiện chủ trương nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh cho đồng bào thiểu số trong tinh thần cộng đồng và đồng tiến xã hội.
Bộ phát triển sắc tộc được thành lập, tất cả các tỉnh toàn quốc có đồng bào thiểu số đáng kể đều thành lập Ty Phát Triển Sắc Tộc cũng như các chi Phát Triển Sắc Tộc tại mỗi quận có đồng bào sắc tộc nhằm mục đích thi hành chánh sách qua sắc luật nêu trên.
Sau ngày sụp đổ chế độ miền Nam vào ngày 30/04/1975 những định chế chính trị nêu trên không còn nữa và chính sách đối với dân tộc thiểu số đã được lịch sử sang trang với một chế độ khác.

NGUỒN CỘI DÂN TỘC CHAMPA VÀ CÁC NHÓM HẬU DUỆ SAU HAI TRĂM NĂM NƯỚC MẤT NHÀ TAN!

Hai trăm năm qua như mới ngày nào, thế mà đã xẩy ra biết bao tang thương biến đổi cho các nhóm hậu duệ Champa và báo động đến mức độ tồn vong của dân tộc:
Các nhóm hậu duệ CHAMPA ngày này có thể chia thành hai nhóm chính sau đây:
Nhóm hải ngoại:
Nam Dương
Thái Lan
Nhóm Hải Nam (Trung Quốc)
Nhóm Mã Lai
Nhóm Campuchia.
Các nhóm trên đây hầu hết đã thay đổi đức tin theo Hồi giáo. Riêng ở Campuchia còn khoản dưới 100 ngàn người ở phía Bắc. Kompong Chnăng, cũng có một số thôn ấp CHĂM gọi là Jahêd, còn duy trì về nếp sinh hoạt truyền thống giống như cộng đồng CHĂM Bàni tại Phan Rang, Phan Rí, vẫn cúng bái thần linh và tổ tiên riêng biệt, khó mà hòa nhập với các cộng động CHĂM Islam dân số đông đảo ở lân cận (trích Bangsa Champa của Dohamida và Dorohiemtr. 347)
Chưa có ai kiểm kê dân số Champa tại các quốc gia Hồi giáo nêu trên; riêng ở Campuchia, theo một Thượng Nghị Sĩ CHĂM (Mad Marwan); sau thời kỳ bị Khmer Ðỏ tàn sát không nương tay, nay còn 420.000 người (trích Bangsa Champa Dohanid, DoroHiêm tr. 335).

NHÓM Ở VIỆT NAM:

Theo kiểm kê dân số gần đây vào ngày 01/04/1999m dân tộc Champa ở Việt Nam hiện nay có: 132,873 ngàn người chia thành ba nhóm tại ba vùng khác nhau:
1- Nhóm thứ nhất: CHĂM H’Roi ở Phú Yên, Bình Ðịnh, có khoản hơn hai mươi ngàn người, sau hai trăm năm xa lìa nhóm tộc CHĂM chính cống của mình; họ sống chung đụng với các tộc người ở Tây Nguyên, ngày nay họ có khuynh hướng ngày càng xa dần tộc người CHĂM của họ, và ảnh hưởng sâu đậm về văn hóa xã hội, kinh tế của cư dân bản địa Tây Nguyên từ cách ăn uống, cách phục sức, nhà ở, lễ hội dân tộc và văn nghệ Chiêng Cồng, đồ vật dụng mưu sinh hằng ngày như: Ná, Gùi, và gạt, v.v… và ngay cả ngôn ngữ v.v…
2- Nhóm thứ hai: Là người CHĂM ở Nam Trung Bộ thuộc hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận gần 90.000 ngàn người. Nhóm này sống hội nhập với xã hội người Việt Nam, theo học chương trình văn hóa Việt từ lớp sơ học lên đến Ðại học. Từng tham gia trong bộ máy công quyền Việt Nam; giữ các chức vụ quan trọng về Quân sự, hành chánh, văn hóa giáo dục, y khoa v.v… Tuy nhiên nhóm CHĂM Nam trung bộ không phải vì hội nhập trong xã hội Việt Nam mà quên đi nguồn cội của mình. Họ vẫn bảo tồn văn hóa truyền thống của cha ông để lại, vẫn giữ phong tục tập quán, chế độ mẫu hệ, ngôn ngữ chữ viết, văn học đân gian CHĂM, tín ngưỡng bản địa, những ngày lễ hội dân tộc CHĂM cũng như hệ thống tâm linh nguồn cội. Họ luôn luôn tự hào về lịch sử oai hùng của dân tộc; về nền văn minh văn hóa độc đáo và rực rỡ của dân tộc họ. Nhóm này mới đúng là hậu duệ CHAMPA trung thành với cội nguồn dân tộc, gìn giữ nòi giống CHĂM và làm cho các bậc tiền nhân CHAMPA ấm lòng nơi chín suối.
3- Nhóm thứ ba: Là dân tộc CHĂM ở các tỉnh Châu Ðốc, tỉnh Tây Ninh và thành phố Sàigòn ngày xưa, gọi chung là CHĂM Nam Bộ. Nhóm này hầu hết theo đạo ISLAM (Hồi giáo), thường có quan hệ với dân tộc Mã Lai vì cùng tôn giáo với họ.
Ðối với người Muslim vốn chỉ tôn thờ Ðấng Tạo Hóa duy nhất là Allah, chứ không thờ phượng thần linh, được thể hiện dưới dạng thức các tượng thờ; cho nên họ không thể chấp nhận những tín ngưỡng bản địa của cội nguồn CHAMPA vốn tôn thờ vô số thần linh. Do đó phần đông những người CHĂM thấm nhuần giáo lý ISLAM thường hay e dè, xa cách đối với các lễ hội dân tộc có thờ thần linh. Có lẽ vì những trở ngại này mà các vua chúa và dân tộc CHAMPA ngày xưa phải “Bản địa hóa” hai hệ thống tâm linh ISLAM và Bà La Môn thành Awar và Ahier để dân tộc CHĂM được sống yên vui và đoàn kết với nhau, gìn giữ được văn hóa cội nguồn và sự trường tồn của giống nòi CHĂM.
Ngoài ba nhóm chính nêu trên, tại tỉnh Bình Thuận Việt Nam ngày nay còn có một nhóm CHĂM nữa tập trung ở Huyện Bắc Bình thuộc bốn làng: Tuân Giáo, Tuân Mục (xã Hồng Thái); và Xuân Hội, Xuân Quang (xã Chợ Lầu). Nhóm ngày này xưa là xóm làng CHĂM, rồi các chàng trai Việt giang hồ tứ xứ đến lập gia đình với người phụ nữ CHĂM sống lẫn lộn với những cặp vợ chồng CHĂM thuần túy, và tất cả trong xóm làng vẫn theo chế độ mẫu hệ, vẫn trân trọng văn hóa truyền thống dân tộc CHĂM, vẫn làm lễ hội dân tộc hằng năm như: lễ hội Rija Nưgar, Rija Daynap, Mbăng Katé v.v… Những đến năm 1945 không hiểu vì nguyên nhân gì họ đem “CHIẾT ÂTAU” của mỗi tộc họ đồng loạt thả trôi sông như một phong trào bài trừ mê tín dị đoan; bỏ hết phong tục tập quán cổ truyền … trong vòng 60 năm trôi qua bây giờ họ đã bị đồng hóa thành người VIỆT!
Lúc còn thanh niên 18 tuổi đang học Trung Học, kẻ viết bài này có ghé vào làng Xuân Quang (một trong 4 làng CHĂM nêu trên) vào dịp hè để thăm người bạn tên NHẬT (người CHĂM. Thuở ấy chúng tôi còn nói chuyện với nhau bằng tiếng CHĂM. Năm mươi năm sau, bây giờ cả bốn làng trên đều nói tiếng Việt thay tiếng mẹ đẻ CHĂM. Cách phục sức cũng hoàn toàn theo như người Việt kể cả bàn thờ tổ tiên.
Qua những phần trình bày về các nhóm CHĂM hiện nay, sau hai trăm năm nước mất nhà tan, ta thấy đặc điểm quan trọng mà bất cứ một người CHAMPA nào cũng cần biết đến như sau:
Ðó là văn minh văn hóa cội nguồn cùng với tiến trình dựng nước và giữ nước của buổi ban đầu, đã tạo thành “Bản sắc” của một con người. Con người này tự biết rõ mình là ai? Từ đâu tới? Và là một giống dân riêng biệt cùng chung một thủy tổ. Ðó là con người CHĂM, của dân tộc CHĂM và của đất nước CHAMPA.
Người Do Thái trước đây giống như dân du mục, sống này đây mai đó trên đất Trung Ðông, và lang thang khắp nơi trên thế giới, vì họ không có một đất nước thực sự. Cuộc sống lang bạt ấy mang đến cho dân tộc Do Thái những sự khinh miệt, xua đuổi, hành hạ. Trong cuộc sống vất vưởng lầm than ấy, không làm cho người Do Thái ngã lòng, muốn được đồng hóa thành dân tộc khác để được yên thân. Bởi vì người Do Thái biết mình ai? Từ đâu đến? là một giống dân riêng biệt, có văn hóa và cội nguồn dân tộc riêng của họ.
Có lẽ một dân tộc dù trong mọi nghịch cảnh, vẫn không bao giờ quên mình là ai đó, mà ngày nay chúng ta đã thấy con người của Do Thái, dân tộc của Do Thái, và đất nước Do Thái văn minh và cường thịnh như ngày nay vậy.
Cao cả thay một giống dân biết trân trọng nguồn cội và thương yêu giống nòi, và họ xứng đáng được tồn tại trên hành tinh này.

NHỮNG SÁCH THAM KHẢO
VÀ TRÍCH DẪN

1. Nhân tử Nguyễn Văn Thọ: Tinh Hoa Các Ðạo Giáo
2. Phạm Cao Dương: Bán Ðảo Ấn Ðộ.
3. Phan Xuân Biên – Phan An, Phan Văn Ðốp: Văn Hóa CHĂM.
4. Lê Khôi: Nhìn Lại Mình.
5. Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Viện Ðông Nam Á: Ðiêu Khắc Chăm.
6. Inrasara: Văn Học Chăm.
7. Mường Giang: Những Nẻo Ðường Bình Thuận.
8. Dohamid, Dorohiêm: Bangsa Champa.
9. Thiệu Vĩ Hoa: Dự Ðoán Theo Tứ Trụ.
10. Ngô Sĩ Liên: Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư.
11. Võ Thu Tịnh: Tình Tự Dân Tộc Việt Nam.
12. Ðắc Văn Kiết: Vài Nét Ðặc Trưng Về Văn Hóa Truyền Thống của Dân Tộc Chăm; Vijaya 02.
13. Ðắc Văn Kiết: Cái gìn còn lại sau khi đã mất: Vijaya 01.
14. Vũ Ký: Luận Cương về Văn Hóa Việt Nam
15. Sakaya: Các Lễ Hội Dân Gian CHĂM.

 

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *