Một chút tâm tư của người viết về buổi ra mắt sách Bangsa Champa: “Tìm về với một cội nguồn…

 

Tôi luôn luôn kính trọng những bậc lão thành, trí thức, và những anh em đứng tuổi cùng trang lứa như tôi trong phạm vi tôn giáo hay ở ngoài đời, ở trong hay ở ngoài nước. Đó là một điều tâm niệm thông thường hằng ngày vì mình có kính trọng người thì người mới kính trọng lại mình. Đặc biệt nếu những người đó lại là những người cùng một màu da, dòng máu, cùng một quê hương xứ sở của mình, tôi lại vừa kính trọng lại vừa cảm thấy càng thắm thiết và gắn bó hơn nữa. Vì vậy, mỗi lần trong cộng đồng Chăm có sinh hoạt gì liên quan đến vấn đề xã hội, tôn giáo, hay văn hóa dân tộc tôi đều có mặt để chia xẻ hay tham gia. Buổi ra mắt sách “Bangsa Champa” của ông Dohamide và Dorohiêm mà tôi tham dự cũng không ngoài mục đích đó.

   Trước đây, tôi cũng đã từng tham gia nhiều hoạt động xã hội, văn hóa hay hội thảo về một đề tài nào đó. Tôi cho đó là một dịp để tôi vừa góp sức cũng như vừa để học hỏi.

   Theo sử liệu để lại, dân tộc Chăm chúng ta chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi, và mất mát vì chiến tranh với người Đại Việt cũng như sự tranh giành quyền lực của chúng ta, đến khi bị thôn tính và bị xóa tan trên bản đồ thế giới vào năm 1832 nhất là qua triều đình nhà Nguyễn, vua Minh Mệnh. Từ đó, qua những những lần di tản trước đây và sau biến cố năm 1975 của chính quyền miền Nam Việt Nam bị sụp đổ. Người Champa đã đi lánh nạn, tìm đất dung thân nơi xứ người và bị đồng hóa nơi đất dung thân ấy như ở Campuchia, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Đảo Hải Nam v.v. và nay là Hoa Kỳ. Tôi cũng như nhiều đồng hương khác đã được định cư ở đây từ năm 1981 đến nay  Tại đất nước người, chắc hẳn quý vị cũng như tôi khi nghĩ tới con cháu sống ở đất dung thân đã phải ưu tư, trăn trở là con cháu của chúng ta sẽ ra sao đây, rồi đây chúng có thể sẽ bị đồng hóa như những thế hệ trước hay không, và tôi tin chắc quý vị ít nhất là có một lần trong tâm tư suy nghĩ về vấn đề này và cũng đã ít nhất có một lần đã tìm phương cách để ngăn chặn hay giải quyết.

   Tôi cũng đã từng gặp những quý vị có đồng một ý nghĩ như tôi là phải làm gì. Chúng tôi cảm thấy và thấy phải làm gì đó cho con em thế hệ sau này để khỏi bị đồng hóa, diệt chủng, và cảm thấy cần phải có trách nhiệm đối với dân tộc, mà không cần phải phân biệt người vùng cao hay vùng đồng bằng, vùng trung hay nam bộ, người Chăm Ahier hay Awal, hay người Chăm Islam.

 Thật vậy, Chăm nào mà không là Chăm; cùng một dòng máu Chăm, cùng tổ tiên, cùng ông bà, cùng nói một ngôn ngữ Chăm, cùng ăn bận y phục Chăm, cùng tôn kính những vị anh hùng dân tộc như Chế Bồng Nga, và cũng cùng hãnh diện về một nền văn minh, văn hóa của tiền nhân để lại: một nền văn hóa truyền thống Chăm. Chúng ta là người hậu thế, chúng ta chỉ thừa hưởng những gì tiền nhân để lại, thừa hưởng những gi mà ta có hiện tại, chúng ta không có sự chọn lựa. Ahier hay Awal chỉ là sản phẩm của tiền nhân để lại, đó là một thực tế không chối cải được. Phân biệt giữa người Chăm với nhau là một điều phi lý, rất phi lý. Ngày nay, một thực tế, một thực thể hiện tại, bên cạnh người Chăm Bàlamôn, Bani, còn có người Chăm Muslim, Chăm Tin Lành, Chăm Thiên Chúa. Sống tại Việt Nam, xã hội Chăm bị bao quanh bởi dân tộc Việt, văn hóa Việt, Sống ở nơi dung thân, người Chăm bị văn hóa và dân tộc nơi đó chi phối, ảnh hưởng. Sống ở các quốc gia phương Tây như Anh, Mỹ, Úc, Pháp, Đan Mạch v.v.  thì dễ bị nơi ấy hấp thụ và dễ bị ảnh hưởng. Nghĩa là sống ở đâu người Chăm cũng bị chi phối, ảnh hưởng, và có cơ hội để bị đồng hóa. Vi sao, vì chúng ta không có một niềm tin về giống nòi mình, về văn hóa mình, văn hóa Chăm, vì chúng ta bỏ quên nó và chạy theo những gì mà đó không phải là của chúng ta. Chúng ta không khơi dậy, không vun bồi thì con cháu làm sao biết được cội nguồn, biết gốc gác đó là một lỗi lầm của chúng ta và sự tự chia rẽ trong chính chúng ta là cơ hội để con cháu mình bị đồng hóa sớm hơn, nhanh hơn, lẽ dĩ nhiên nó là một điều vô lý hơn nữa.

 Những tị hiềm, tranh chấp, thành kiến của những cá nhân trước đây ở Việt Nam đem qua đây cũng đã đủ làm cộng đồng xào xáo, phân hóa rồi, nay lại còn vấn đề tôn giáo này nọ nữa thì thật quả là bất hạnh cho dân tộc. Tuy nhiên những tỵ hiềm cá nhân cũng sẽ qua, dễ giải quyết vì một khi họ không còn nữa thì điều đó sẽ tự tan biến, còn thành kiến về tôn giáo, nếu còn nuôi dưỡng, nếu không hóa giải, nó sẽ mãi mãi đi theo thế hệ con cháu Chăm của chúng ta.

 Vì những suy tư ấy mà chúng tôi cùng chung một quan điểm, cùng chung một ưu tư, cùng chung một nguyện vọng đã tụ tập lại thành lập một hội gọi là Hội Bảo Tồn Văn Hóa Champa tại Hoa Kỳ, để tạo sự gần gủi, chia xẻ, và cùng hướng về cội nguồn, về dân tộc Chăm, và về nước Champa. Chúng tôi đã dùng văn hóa làm điểm tựa để mọi người Chăm cùng giao lưu, giao hảo lại với nhau, mở rộng cánh cửa để tạo thông cảm, hiểu biết nhau nhiều hơn.

 Tôi và gia đình tôi cũng như một số người Chăm Bani (Awal) tại thôn Văn Lâm, xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, nhờ đấng Allah soi sáng, đã nhận lại được đức tin Islam. Sang đây đến Hoa Kỳ, tôi được đấng Allah ban ân phước được sang Thánh địa Mecca, nước Arập Saudi năm 1995, thực hiện lễ đạo hành hương và thành “Haji”, một cơ hội không phải người Islam nào cũng đạt được.

 Trong bước đầu thành lập hội tôi là người Islam duy nhất đã vận động, hợp tác với các anh em đồng tuổi, trí thức, lão thành là người Chăm Ahier, Chăm Awal. Tôi đã bị và chịu nhiều tiếng đàm tiếu không thuận lợi của một số bậc lão thành thuộc cộng đồng Chăm Islam San Jose, bắc California. Họ không mặn mà với việc tôi làm, cũng là do họ có thành kiến nói là tôi lao theo việc thờ thần linh, một điều cấm kỵ tuyệt đối (haram) đối với người theo đạo Islam. Căn bản giáo lý của Islam là chỉ thờ đấng Allah, là đấng tạo hóa duy nhất của vũ trụ và loài người. Người Islam rất là dị ứng đối với lễ Katê hằng năm của người Chăm Ahier, mà khi còn ở quê nhà nghi lễ còn bao gồm lễ tắm gội các tượng thờ trong các đền tháp do các chức sắc Ahier thực hiện theo nghi thức Balamôn giáo, không thích hợp vớì Islam.

 Tuy nhiên, xét cho kỹ lại Katê chỉ là một lễ hội dân gian hằng năm, không phải bao gồm những nghi thức làm lễ Bàlamôn như kể trên. Trên thực tế, tất cả quần chúng Chăm Ahier cũng như Awal hằng năm cùng tham dự, ngay cả người Chăm vùng cao nguyên cũng tham dự, mà họ đâu có phải là người theo đạo Bàlamôn. Vì người Chăm Ahier đông hơn người Chăm Awal, hơn nữa họ là những người luôn luôn cáng đán trong việc tổ chức tất cả các lễ hội tại vương quốc Champa từ ngàn xưa, họ lại là người theo đạo Bàlamôn, nên người ta thường nghĩ rằng trong đạo Bàlamôn có Katê, một điều mà không có một cuốn sách nào hay một bằng chứng nào để chứng minh cả. Người Chăm Ahier tổ chức lễ Katê, điều đó ai cũng chấp nhận, vì đó là lễ Katê là lễ dân gian của đất nước họ, họ là nhóm dân đông đảo hơn, họ chịu trọng trách đó để truyền lưu từ đời này sang đời kia. Nhưng vì họ là người Bàlamôn, nên người ta đã đồng hóa Katê là một lễ của Bàlamôn, nhưng trên thực tế không phải như vậy. Trong lễ Katê còn có người Chăm Bàni tham dự, mà họ không có quyền tổ chức vì những giáo luật của Bàni không cho phép, nhưng vì đó là lễ dân gian nên họ có quyền tham dự. Hiện tại theo tôi biết Balamôn gíáo chỉ còn ảnh hưởng đối với người Chăm Ahier chỉ trong việc Tang Tế, nó không còn trong những cuộc Quan Hôn hay trong những sinh hoạt hằng ngày nữa.. Hơn nữa, văn hóa chỉ là một cuộc sống, sự sinh hoạt của một xã hội của những nhóm người, hay của một dân tộc.Văn hóa không phải là bất di bất dịch, mà nó thường thay đổi, biến dạng tuỳ từng giai đoạn, từng môi trường thích hợp, từng không gian và từng thời gian của từng nhóm người hay dân tộc ấy. Vì vậy, vì Katê là một nền văn hóa dân gian nên nó thay đổi tuỳ nơi tuỳ lúc. Katê ở Phan Rang khác với Phan Rí, khác với Ma Lâm Chàm, khác với Tịnh Mỹ, nhưng tựu trung là nhớ ơn những vị tiền nhân có công khai sáng đất nước, hay những vị đã có công bảo vệ, giữ gìn dân tộc hay đất nước hay giống nòi.

 Trong lần về thăm quê vừa qua tôi có gặp một vài vị thân hào nhân sĩ, trí thức Chăm Ahier ở vùng Phú Lạc để hỏi thăm về ý nghĩa của lễ Katê thì được biết Katê là lễ hằng năm của dân tộc Chăm. Lễ này được tổ chức ở đền tháp, ở làng xã, và ở trong từng gia đình.. Katê ở làng xã đã cho tôi rõ ràng ý nghĩa của nó.Katê trong làng được tổ chức do những gia đình trong làng, mà đặc biệt là những gia đình này theo dòng máu của người cha mà lập thành làng và người vợ cũng phải theo về phía bên làng của người chồng. Những con dân làng đến tuổi 18 trở lên phải chiụ, gom góp tiển bạc, vật phẩm cần thiết cho làng tổ chức Katê, mà đôi khi được gọi là Tết Katê. Tai sao không phải là bên mẹ tôi hỏi, và tôi được trả lời là vì cha là người có công lao nhiều nhất trong gia đình mà công lao này không được thực hiện khi lúc còn sinh tiền tại gia đình bên mẹ, tức là vợ của người ấy.

Để có sự công bằng, Katê là dịp để con cháu báo hiếu tổ tiên bên cha, vì người cha chẳng những lam lũ cực khổ nuôi con mà đôi khi còn mang của cải như ruộng vườn, đất đai, bàn ghế, xe cộ, tiền bạc v.v. về bên vợ, tức là bên mẹ của đứa con, để làm ăn, gầy dựng cơ ngơi, mặc dù của cải tài sản này chỉ được quyền hưởng một đời hay một phần của cuộc đời người ấy. Như vậy Katê là một lễ hội, và cũng nằm trong việc trả ơn, báo hiếu. Trong khi lễ Katê là trong phạm vi nhân gian với mục đích là để báo ơn, đáp nghĩa được thực hiện tại nhà làng xã bên cha, thì công việc tang tế lại có tính chất tôn giáo Bàlamôn thì được tổ chức tại bên mẹ. Katê, nếu được tổ chức trong gia đình, thì đó cũng không ngoài ý nghĩa đền ơn báo hiếu của các con cháu đối với tổ tiên, ông bà đã sinh ra họ trong dòng họ bên mẹ. Trong phạm vi xã hội rộng lớn bên ngoài, Katê được tổ chức tại các đền tháp, cũng là để nhớ ơn hay vinh danh các vị anh hùng, vua chúa, công thần của dân tộc, nó tuyệt nhiên không phải là một lễ hội thuộc đạo Bàlamôn. Người ta tổ chức Katê tại nhiều tháp, mỗi tháp người ta vinh danh một vị vua: Pô Nưgar, Pô Klong Garai, Pô Romê, Pô Tằm, Pô Ních, Pô Mưh Kha mà con cháu là Bà Thềm, là công chúa sau cùng của Chămpa v. v. mà trong lúc hành lễ thì mỗi tháp thực hành mỗi khác; nếu nó thuộc về đạo Balamôn thì hẳn phải theo một nghi thức nhất định, và phải vinh danh thần Shiva. Đạo Bàlamôn là một nhánh của đạo Hindu, phát xuất từ Ấn độ từ năm, sáu ngàn năm về trước, và họ thờ thần Shiva; không lẻ như Pô Klong Garai, Pô Ních, Pô Rômê, Pô Tằm, Pô Mưh Kha là một vị thần trong Balamôn sao? Họ là những người sanh sau đẻ muộn mà.  Trong khi các vị Pô Klong Garai, Pô Rômê thì được vinh trong các tháp Chàm, thì Pô Nưgar và Pô Ních được vinh danh  trong các đền thờ, còn Pô Mưh Kha thì được vinh danh trong các làng xã mặc dù vị này có đền thờ riêng ở play Xôm ngù, Lương sơn.

 Trong khi chủ tế lễ tại các tháp là do các chức sắc tôn giáo, thì chủ tế lễ trong làng là các chủ làng (Pô Palay) hoặc các bô lão trong làng, là những người có uy tín và thông thạo về phong tục, tập quán, và tại gia đình thì chủ tế lễ chỉ là ông chủ họ hay là những người cao niên trong họ.

 Katê trong gia đình mà con cháu không lo toan thì có tội lỗi với ông bà tổ tiên bên mẹ. Katê trong làng mà con cháu không chu toàn là tội lỗi bên cha. Katê không tổ chức được trên các đền tháp thì bị cho là không biết ơn trung hiếu với các bậc công thần, với vua, với các vị anh hùng dân tộc.Những điều đó cho thắy Katê không nằm trong Bàlamôn giáo; hơn nữa Katê lại còn mang tính văn hóa nông nghiệp; vào tháng Bảy Chăm lịch, sau khi gieo cày xong lúa đã mọc cao và nông dân chỉ lo theo nước vào ruộng và chăm sóc cây lúa, đó là thời gian rãnh rổi để nông dân tổ chức lễ này lễ nọ; và như vậy nó là một lễ hội nhân gian không hơn không kém, tuy rằng Katê lại được tổ chức bởi người Chăm Ahier. Việc cúng bái trong nhân gian Chăm chỉ là một hình thức tỏ lòng tôn kính và biết ơn, và cúng lạy chỉ là một biểu tượng mà nó biểu lộ sự lễ độ, sự biết ơn như hành động cuối đầu chào khi gặp nhau giữa những người biết tương kính nhau. Thực sự người Chăm, họ không có cách nào khác hơn để bày tỏ lòng tôn kính của họ.

 Trên thực tế hiện nay chính Chính quyền nhà nước Việt Nam cũng đã công nhận Katê là lễ hội chính của dân tộc Chăm, và để thể hiện điều đó chính quyền đã cho phép tổ chức, yểm trợ, tạo điều kiện dễ dàng, và đôi khi còn tham dự vào nữa như lễ hội Katê năm 2001 và 2004 tại Phan Rang. Chúng ta cũng hiểu rằng Chính quyền Việt Nam cũng rất dị ứng với tôn giáo, bất cứ tôn giáo nào; tại sao họ lại dễ dàng cho việc tổ chức Katê. Một lý do đơn giãn là vì nó không phải nằm trong phạm vi tôn giáo. Nó nằm trong văn hóa nông nghiệp, văn hóa dân gian. Họ muốn đề cao giai cấp công nông như họ đã từng công bố và đó cũng là chính sách hòa giải dân tộc giữa người Kinh và người sắc tộc thiểu số.

 Hội Bảo Tồn Văn Hóa Champa tại USA từ lâu nay cử hành lễ Katê không ngoài hình thức lễ hội dân gian, và lấy đó làm một buổi họp mặt của đồng hương trong cộng đồng Champa mà nhân dịp này để vinh danh các vị anh hùng, bậc tiền nhân đã có công với dân tộc, với đất nước Champa qua hình thức đọc tiểu sử các vị vua, công thần có công dựng nước, giữ nước, hay đem lại sự phồn vinh, an cư lạc nghiệp cho thần dân Champa trước đây. Những bài này do một số diễn giả được chọn lọc trình bày hoàn toàn giới hạn trong phạm vi văn hóa, văn học.Tuyệt đối không có nghi thức bái lạy, hay thờ cúng thần linh nào cả. Thay vào đó, một hình thức biết ơn giản dị hơn và văn minh hơn, chúng tôi đã dùng nghi thức dâng vòng hoa lên các bậc tiền nhân là đủ. Văn hóa là sinh hoạt của con người có thể thay đổi tùy nơi, tùy lúc, tùy môi trường, và sự biến đổi này không ngừng ở bất cứ điểm nào, nơi nào; nên chúng tôi hân hạnh đem hình thức cung kính này thay thế cho sự cúng lạy mà nó đã có lâu đời trong vương quốc Champa. Chúng tôi chưa gặp sự phê bình hay chống đối ở điểm này, vì nghi thức đó tự nó đã đủ ý nghĩa rồi. Theo tôi nghĩ, nếu người Chăm Islam hiểu rõ điều này, và phàm là người có giòng máu Chăm trong tim, không có người Chăm nào nở bài bác cả.

 Những ý nghiã về lễ hội Katê của tôi cũng đã từng được giới trí thức Chăm Islam chia xẻ trước đây như các ông Dohamide, Dorohiêm và một số anh em thanh niên Muslim ở các tiểu bang miền Đông. Họ đã từng tới dự lễ hội, cùng dùng những bữa ăn thân mật, và cùng chuyện trò trong tình thân dân tộc, và tôi chưa từng nghe họ phê bình hay bài bác về Katê.

 Thật vậy, những vị này chắc cũng đã từng lo âu, ưu tư cho thế hệ con em Chăm chúng ta sau này sẽ đi về đâu, có còn lưu lại nòi giống dân tộc Chăm trên quả địa cầu này, hay sẽ bị hòa lẫn, đồng hóa và biến mất (diệt chủng).

 Tôi xác nhận tôi là người Chăm Islam, một người Muslim hành đạo theo hệ phái SHAFI-I, chứ không phải theo phong trào “Wahhabi” chủ trương cục bộ, quá khích, đã bị hội đồng Islam Bắc Mỹ ban hành Fatwa (giáo lệnh) vào tháng bảy vừa qua, theo đó hội đồng này đã bài bác chủ trương cực đoan, khép kín Islam, mà trên cơ sở căn bản là một tôn giáo an bình. Vả lại nước Hoa Kỳ là một nước dung hợp nhiều tôn giáo, nhiều văn hóa khác biệt, nên người Muslim cần phải mở rộng vòng tay, tầm nhìn ra bên ngoài để có cơ hội giao lưu với xã hội chung quanh. Giao lưu với bên ngoài trong khi giữ vững đức tin bên trong về tôn giáo mình mới là người thấm nhuần đạo lý, và từ đó mới thực hiện được nguyên lý an bình và tạo sự hiểu biết giữa con người với con người được.

 Cũng trong tinh thần này mà hai ông Dohamide và Dorohiêm đã mở vòng tay, tầm nhìn ra ngoài với anh em, và một khi thông hiểu nhau thì hai ông được đón nhận một cách nhiệt tình. Trong dịp ra mắt cuốn sách Bangsa Champa:”Tìm về với một cội nguồn cách xa” của hai ông hội BTVH Champa đã đáp ứng một cách chân tình và trân trọng khi được hai ông yêu cầu phụ giúp phần văn nghệ truyền thống Champa.

 Hai ông Dohamide và Dorohiêm những vị trí thức Chăm Muslim vùng Châu Đốc và cũng là những vị trí thức của Champa. Mọi người đều biết hai ông qua cách cư xử, cũng như qua các hoạt động, phục vụ, và phát triển cộng đồng Muslim từ năm 1975 đến nay.

 Trong dịp ra mắt sách ấy, anh em trong hội đã đáp ứng nồng nhiệt hầu mong cho hội trường, sân khấu được trang hoàng khang trang, đẹp đẻ và nhất là “phải thật Chăm”. Từ việc trang trí phòng ốc, chào mời khách tham dự, đến việc tiếp tân, trình diễn những vũ điệu truyền thống của Champa trong các tiết mục được sắp xếp, đòan vũ văn nghệ của Hội đã chu toàn mỹ mãn từ lúc bắt đầu cho đến lúc ra về.

 Ông Dohamide và Ông Dorohiêm là hai anh em ruột, sinh ra và lớn lên ở vùng Chăm Nam bộ: Koh Ta Boong, Châu Đốc, một nơi rất xa với khu di tích lịch sử truyền thống dân tộc Champa ở miền duyên hải trung phần Việt Nam. Hai ông chưa biết nhiều về nếp sống, sinh hoạt, phong tục tập quán hay những sinh hoạt văn hóa của người Chăm tại miền Trung Việt Nam, nơi mà ông đã gọi là “cội nguồn” trong tựa đề cuốn sách hai ông cho ra mắt.

 Cũng do sự biết mở rộng vòng tay để giao lưu với bên ngoài mà hai anh em ông ta đã chiếm được nhiều cảm tình của nhiều người và đã nhận được sự hổ trợ của chẳng những một hội đoàn mà là ba hội đoàn, và nhận được sự hổ trợ của cả ba nhóm người:

–          Thân hữu, bạn bè, ân nhân của hai ông trong đó có những vị khoa bảng, như bác sĩ, luật sư, giáo sư, chính khách, học giả, nói chung là giới trí thức của người Việt Nam.

–          Có ba hội đoàn người Việt bảo trợ: SEACAEF, V.I.E.T. Foundation, và hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam.

–          Hội Bảo Tồn Văn Hóa Champa tại USA.

 Riêng cá nhân tôi rất cảm kích trước tinh thần của hai ông. Vì tác phẩm của mình sắp ra một phần, vì tình dân tộc một phần, hai ông đã không ngại đường xá xa xôi mà đến tận nhưng xóm làng hẻo lánh ở miền Trung để tìm hiều, nghiên cứu để về viết laị cho cuốn sách mình được chinh xác, sống động, làm cho phong phú tài liệu hơn. Nào là văn hoá Sa huỳnh Chăm đối chiếu với nền văn hoá Đồng sơn của giống Việt, nào là những bia ký, hình tượng trong những vùng Chàm cổ v.v.

 Cũng nhờ mở rộng vòng tay, không sống trong môi trường khép kín, trong vỏ ốc, mà hai ông đã hóa giải được phần nào những thắc mắc của cộng đồng Chăm ở hải ngoại qua bài viết “Chiêm thành vì đâu mà suy thoái” của Tiến Sĩ Trần Gia Phụng trước đây, vừa là một giáo sư, vừa là nhà nghiên cứu. Sau một cuộc đối thoại giao lưu nóng bỏng trong tình tương kính tại nhà ông Dohamide giữa nhưng anh em trong hội Bảo Tồn và giáo sư Trần Gia Phụng mà hai bên đã thông cảm và lấy lại được lòng tín cẫn lẫn nhau về bàì viết của ông.

 Tất cả những nghi kỵ, mâu thuẫn, hiềm khích, và cách biệt giữa chúng ta, người Chăm tại Hoa Kỳ, không phải không giải quyết được; vấn đề chỉ là biết mở rộng vòng tay hướng ra ngoài và thật tình đối thoại trong tình xây dựng. Nên gạt bỏ những nghi kỵ nhau mà không có một lý do vững chắc, rất mơ hồ này.

 Qua cuộc ra mắt sách và đọc xong quyển sách của hai tác giả tôi cũng có một vài nhận xét thô thiển như sau:

 Về hình thức:

 Quang cảnh hôm ra mắt cuốn sách ngay 1 tháng 8 năm 2004 vừa qua của hai ông cho thấy một sự thành công mà ít người viết sách đạt được từ sự hổ trợ vật chất lẫn tinh thần của từng bạn bè, thân hữu, cũng như của các đoàn thể.

 Cuốn sách được trình bày đẹp mắt, nổi bật hẳn lên nếu trưng bày với nhiều sách báo khác. Cách hành văn đã lôi cuốn độc giả từ cái mới lạ này tới mới lạ khác, lời văn bình dân, từ ngữ dễ hiểu, gây ấn tượng và dễ gây thiện cảm, bên cạnh vài lỗi nhỏ nhặt về chính tả và địa danh.

 Về nội dung:

 Tôi cũng thành thật xin thưa rằng tôi cũng ít nghiên cứu một phần, ít đọc sách ngoại ngữ được, tôi chỉ đọc được sách tiếng Chàm và tiếng Việt Nam, nên phần này tôi không dám lạm bàn. Tuy nhiên tôi nhận thấy tác giả đã tham khảo rất nhiều sách vở liên quan đến lịch sử,văn hóa, văn minh Chàm mà tôi có lần đọc qua bằng tiếng Việt. Tác giả đã dựa vào nhiều sách vở và suy luận theo cảm quan riêng tư của mình. Trong sách đã chia làm nhiều phần, nhung tựu trung có hai phần chính: hồi ký về cuộc đời của tác giả và những nghiên cứu về văn hóa Chăm.

 Trong phần hồi ký tác giả đã cho độc giả biết rõ về mình. Theo tôi, tác giả đã khéo chuẩn bị cho mình đầy đủ hành trang trong hành trình “tìm về cội nguồn” từ hoàn cảnh, tâm tư, thắc mắc về thân phận mình, kiến thức văn hóa, kinh nghiệm cuộc đòi, và nhất là một tín đồ Islam. Tác giả đã phô bày nhiều hình ảnh về những gì liên quan đến Islam, như nhà chùa Muslim, lớp học giáo lý của tín đồ, hay những buổi lễ cầu nguyện của các tín đồ v.v..Tác giả đã trang bị cho mình vững chắc trước khi dấn thân mà tôi rất lấy làm thích thú và ngưỡng mộ. Có một niềm tin vững chắc trong lòng với đấng Allah thì cuộc hành trình đi đến đâu cũng được, cũng thành công, huống chi là trở về với dân tộc cội nguồn của chúng ta.

 Con người không phải chỉ sống trọn cho đời, hay chỉ sống trọn cho đạo. Hai thứ đó luôn luôn đè nặng lên vai mỗi người, chỉ trừ những kẻ vô tôn giáo. Làm sao dung hòa được đạo và đời; làm sao trả được nợ cho đời mà vẫn giữ trọn tấm lòng chân chính với đạo, đó là điểm mà tôi rất ưu tư trong lòng. Tôi bắt gặp và ngưỡng mộ hai ông ở điểm đó: dung hòa công việc của đạo mà vẫn không quên chu toàn việc đời. Tôi muốn làm như vậy và tôi xác quyết tôi đã làm như vậy. Dù ở đâu, ở ngoài xã hội rộng lớn hay trong hội Bảo tồn Văn hóa nhỏ bé này, tôi vẫn hành xử như là một con người có lương tri, bên cạnh hoạt động có ích cho đời, cho thế hệ mai sau, cho dân tộc với một tấm lòng hướng về thờ kính một đấng Allah duy nhất. Thượng Ðế Allah, Ngài là Ðấng Toàn Năng, Toàn Trí, là Ðấng rất mực độ lượng và khoan dung, không buộc tín đồ quay lưng lại với dân tộc mình, với tổ tiên mình. Đừng sợ nữa, hãy dấn thân với lòng tin vững chắc nơi đấng cao cả Allah. Có như vậy người Chăm mình mới gần được nhau, người Muslim mới vào lòng nhân loại, và đem an bình tới thế gian. Thế hệ con cháu Chăm sau này sẽ không cách biệt nữa, việc dựng vợ gả chồng của chúng không còn bị ngăn trở nữa. Hãy giữ mãi tinh thần Ramadan năm nay, mà chúng ta đã cùng nhau họp bàn, thảo kế hoạch và đồng tình, một lòng tổ chức lễ Ramadan trước khi vào mùa chay, như đã làm tại quê nhà và nhớ giữ mãi tinh thần này cho các mùa Ramadan sắp tới.. Các bậc cha mẹ nên vui mừng và khuyến khích con em tập dợt văn nghệ để ca múa theo nhạc cổ truyền, hãy tổ chức những trận đấu bóng giao hữu với cộng đồng anh em Chăm khác, để nối tình đoàn kết, phát triển sự giao lưu, mở vòng tay ra ngoài, và củng cố lại niềm tin vào Allah để duy trì sự trường tồn của giống nòi Champa.

 

San Jose ngày 20 tháng 9 năm 2005

Mùa Ramadan 2005

Haji Yassin Bá

 

 

.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *