Thử điểm lại quan điểm lịch sử và văn hoá trong tác phẩm


 Từ mấy năm qua đã có một số tác phẩm liên quan đến Champa ra đời ở Việt Nam cũng như ở một số nước như Malaysia, Pháp, Mỹ. Trong đó đáng chú ý nhất là 3 cuốn sách: Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiển, Lịch Sử Vương Quốc Champa của Lương Ninh và Qua Những Nẻo Ðường Bình Thuận của Mường Giang [2].
Cả 3 cuốn sách này, tuỳ theo mức độ khác nhau mà tác gả có đề cập về lịch sử và nền văn minh Champa. Có điều đáng chú ý là các tác phẩm này do 3 tác giả gốc người Việt thực hiện. Họ xuất thân từ những chế độ khác nhau. Giáo sư Lương Ninh thì ở Việt Nam, Nguyễn Gia Kiển ở Pháp và Mường Giang ở Hoa Kỳ. Cả 3 tác giả đều có mục đích, quan niệm riêng khi viết tác phẩm, chủ yếu phục vụ cho lí tưởng của họ nhưng có một điều Champa lại trở thành nạn nhân của lí tưởng này. Nếu như Lương Ninh viết cuốn Lịch Sử Vương Quốc Champa để phục vụ cho chính sách dân tộc thiểu số mị dân trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam thì Mường Giang và Nguyễn Gia Kiển lại viết sách của mình để bảo vệ chế độ Cộng Hoà ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và hoan hô mô hình tự do, dân chủ ở Phương Tây. Có một điều lạ, đó là 3 cuốn sách nêu trên mang 3 chủ đề và 3 tư tưởng khác nhau của 3 tác giả không cùng xuất phát từ một tổ chức, xã hội chính trị nhưng lại cùng giống nhau về mặt tư tưởng. Nếu Nguyễn Gia Kiển bàn về Champa trong tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn một cách hời hợt mặc dù Champa là chủ nhân chính của dải đất miền trung Việt Nam trong quá khứ lịch sử, thì Lương Ninh và Mường Giang lại có một cách nhìn về Champa một cách rất phiến diện, phi khoa học và đôi lúc có thái độ thù địch. Trong tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiển, tác giả viết nhận định về Ðại Việt và Champa «Một bên [Ðại Việt] là ảnh hưởng nho gia, ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc, làm nông nghiệp; một bên [Champa] là ảnh hưởng văn hoá Ấn Ðộ dựa trên 2 giai cấp tăng lữ và chiến binh» (tr. 201). Ðây là một câu viết đầy ẩn ý cho rằng Ðại Việt là cư dân nông nghiệp, hiền hoà và chất phác còn Champa là dân tộc luôn gây chiến tranh. Còn tác giả Lương Ninh, trong cuốn Lịch Sử Vương Quốc Champa khi lí giải chiến tranh giữa Ðại Việt và Champa trong suốt 352 trang cũng chỉ đưa ra một nguyên do duy nhất là khi Ðại Việt đánh Champa là do «Champa cướp phá và không nộp cống» (tr. 81, 82, 85 và 187).Và Mường Giang, trong cuốn Qua Nẻo Ðường Bình Thuận cũng cho rằng «Chiêm thành mất nước là do họ tự đạo diễn. Cuộc
Nam
tiến của Ðại Việt chẳng qua cũng chỉ là một ngẫu cảm trùng» (tr. 115-116).

Qua 3 cuốn sách nêu trên độc giả thấy rằng dù người Việt sinh sống ở nơi đâu, bất cứ ở chân trời góc biển nào hay sống trong bất cứ chế độ nào tự do, dân chủ như ở Phương Tây hay chế độ độc đảng của Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam thì khi nhận diện về Champa, họ đều có một cách nhìn giống nhau bởi một tư tưởng Nam Tiến của dân tộc Việt.

Mặc dù 3 tác giả nêu trên có trình độ kiến thức rất cao, nhưng do xuất phát từ một tư tưởng Ðại Việt nên họ mất đi tinh thần công minh trong nghiên cứu khoa học và do vậy cách nhìn của họ đối với Champa không công bằng, phiến diện, một chiều, đôi lúc họ đặt vấn đề và lí giải vấn đề không phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và nền văn minh Champa. Chính vì vậy, 3 tác phẩm trên đã trở thành đối tượng bình luận và phê bình của chúng tôi.

Trong phần phê bình này chúng tôi chỉ chú tâm đến những chương mục nào trong 3 tác phẩm nêu trên có liên quan đến Champa. Phê bình 3 tác phẩm này không ngụ ý là phê bình tác giả, người đồng nghiệp viết sách mà chủ yếu là phê bình, chỉ trích những tư tưởng, chính sách và chế độ nào có ẩn ý làm sai lệch và phai nhạt đi lịch sử và nền văn minh Champa. Phê bình này cũng nhằm đưa ra ánh sáng những gì là sự thật phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, xã hội Champa và trả lại cho nền văn minh Champa theo đúng giá trị của nó trong lịch sử. Phê bình cũng là một mặt quan trọng trong nghiên cứu nhằm đi đến mục tiêu là bảo vệ nền văn hóa-văn minh Champa, một di sản văn hoá của nhân loại cần được trân trọng và bảo lưu.

***

TỔ QUỐC ĂN NĂN CỦA NGUYỄN GIA KIỂN

Sách Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiển in lần thứ hai có bổ túc và sửa chữa) tại Pari, 2004, 615 trang. Sách được chia làm 5 phần: Phần I – Ðất nước và con người; Phần II – Ðoạn đường đã qua; Phần III – Vì đâu nên nông nổi này; Phần IV – Vài trang bị cho tương lai; Phần Việt Nam – Vươn mình lớn dậy.Và cuối sách có một số bài nhận định của độc giả về cuốn sách. Ðây là cuốn sách viết khá công phu, tập trung nhiều nguồn tư liệu và nhận định quý giá về đất nước, con người, lịch sử, văn hoá và chính trị v.v. của Việt Nam. Chứng tỏ tác giả đầu tư nhiều công sức, thời gian, tư liệu và trải qua một quá trình suy ngẫm đến độ chín. Với bố cục chặt chẽ, lời văn mạch lạc, rõ ràng, lôgic, tác giả đã chuyển tải được một nội dung khá gai góc và phức tạp thành những vấn đề đơn giản, dễ hiểu trong lĩnh vực lịch sử, văn hoá và chính trị Việt Nam từ cổ chí kim. Cuốn sách có nội dung sâu sắc, có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu là đột phá được quan điểm cổ xưa, lỗi thời của các tác giả đi trước và đưa ra một cách nhìn mới về đất nước và con người Việt Nam .

Ðóng góp thứ nhất, đó là tác giả dám nói sự thật về những khuyết tật của dân tộc Việt, mặc dù sự thật đó là phủ phàng, làm sụp đổ thần tượng những vĩ nhân, những nhân vật lịch sử, cũng như niềm tự hào về văn hoá của dân tộc Việt Nam. Nhiều nhà viết sử Việt Nam[3] cho rằng Việt Nam có 4.000 năm lịch sử nhưng tác giả Nguyễn Gia Kiển chứng minh hoàn toàn khác hẳn. Theo tác giả Việt Nam chỉ có 2.500 năm lịch sử (tr. 115-119). Lịch sử Việt Nam luôn xem Nguyễn Huệ, Ðinh Bộ Lĩnh .v.v là những nhân vật anh hùng, có công nhiều trong lịch sử Việt Nam, xứng đáng làm vua tôi cho thiên hạ phụng sự và tôn thờ. Nhưng Nguyễn Gia Kiển chứng minh ngược lại, đó là những ông vua bất tài, bạo ngược, chẳng có công gì cho đất nước (tr. 151, tr. 155, tr. 520). Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam tự hào rằng, Việt Nam là cái nôi văn hoá, văn minh, có nhiều giá trị văn hoá vật chất và tinh thần [4], nhưng Nguyễn Gia Kiển chứng minh ngược lại, «văn hoá dân tộc Việt Nam chẳng có gì, ngoài vài cây cột chùa Phật, những hoa văn chạm trổ ở góc giường, tủ» (tr. 241). «Ngay cả thơ văn, nhiều người cho rằng thơ văn người Việt là đồ sộ, tiêu biểu là truyện Kiều, nhưng tác giả cho rằng thơ văn người Việt không có gì đáng kể, nếu tổng kết chỉ vài trăm bài. Còn truyện Kiều không phải là tác phẩm của của người Việt sáng tác, mà tác phẩm của Nguyễn Du ăn cắp từ một cốt truyện của tác phẩm Thanh Tâm Tài Nhân của một tác giả vô danh bên Tàu» (tr. 326 và tr. 242-244). Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng Khổng Tử, Ðạo Nho là niềm tự hào về tư tưởng, nếp sống đạo đức, có vai trò đắc lực trong việc duy trì trật tự xã hội phong kiến Việt Nam, là nhân tố quan trọng để hình thành văn hóa và văn minh Việt Nam. Ở đây tác giả Nguyễn Gia Kiển chứng minh ngược lại, Nho giáo đã kìm hãm, làm thui dột giá trị văn hoá và tinh thần của người Việt Nam. Tác giả còn cho rằng văn hoá Khổng là văn hoá vô lễ nhất (tr. 32, tr. 58). Khẩu hiệu «Người Việt có truyền thống yêu nước, dũng cảm, gan dạ…» là câu nói cửa miệng của người Việt và xuất hiện nhan nhản hàng ngày trên sách, báo của Việt Nam nhưng Nguyễn Gia Kiển đã tìm ra được cái sự thật và chứng minh ngược lại người Việt không yêu nước, không dũng cảm mà người Việt là người nhát gan.Ví dụ: năm 1772 chỉ 7 tên lính Pháp mà đã đánh chiếm Ninh Bình và 170 lính Pháp đánh Hà Nội nhưng không gặp một sự kháng cự nào (tr. 217)…Khái niệm “yêu nước”, “ái quốc” không có trong ngôn từ người Việt. Ngôn từ này chỉ xuất hiện sau thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20 khi Pháp đến đặt nền đô hộ ở Việt Nam (tr. 341, tr. 573).

Ðóng góp thứ hai rất có giá trị trong cuốn sách này là tác giả Nguyễn Gia Kiển đã lí giải được 2 vấn đề hóc búa: Làm sao thay đổi cách trị nước của người Việt và tại sao Ðảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) yếu như vậy mà không sụp đổ. Ðể trả lời câu hỏi thách đố này, tác giả nêu ra 2 vấn đề.

Vấn đề thứ nhất, nhiều người nói rằng, chế độ CSVN độc tài quá nhưng nếu đặt một trường hợp Ðảng CSVN sụp đổ thì một Ðảng khác của người Việt lên thay, nắm quyền cai trị Việt Nam thì tình hình Việt Nam có thay đổi không? Chắc chắn cũng vậy thôi, có khi một Ðảng khác lên thay còn tàn bạo hơn Ðảng CSVN, bởi vì bản chất người Việt là như nhau cả. Ðiểm này tác giả Nguyễn Gia Kiển đã lí giải rằng, muốn thay đổi cách trị nước của người Việt Nam, mong tiến tới một nền dân chủ, tự do thực sự thì trước tiên phải thay đổi bản chất con người và văn hoá Việt Nam (tr. 577-594) .

Ðiểm thứ hai, nhiều người thắc mắc tại sao Ðảng CSVN là một tổ chức yếu như vậy mà không sụp đổ. Chắc chắn Ðảng CSVN phải là Ðảng vững mạnh mới tồn tại được gần một thế kỉ nay. Ðiểm này tác giả lí giải rằng, Ðảng CSVN còn tồn tại được vì dân tộc Việt Nam chưa có phong trào yêu nước. Bản chất tư tưởng người Việt, mặc dù họ sống ở chế độ nào(Cộng Sản hay Cộng Hoà) đều bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho gia, luôn trung với vua, hiếu với nước, cho nên nhân dân phải phục tùng vua và chấp nhận làm nô lệ. Chính vì thế, sự tồn tại của Ðảng CSVN ngày nay ở Việt Nam không phải xuất phát từ một tổ chức chặt chẽ và hùng mạnh như một số người lầm tưởng (tr. 219). Cả hai vấn đề trên tác giả lí giải có sức thuyết phục cao .

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, tác phẩm này còn có những khuyết điểm

Ði ngược dòng thời gian để đọc lại những tác phẩm liên quan đến lịch sử, văn hoá, chính trị của dân tộc Việt [5] thì người ta dễ dàng nhận thấy hầu hết các tác phẩm của các sử gia và các nhà văn hoá học Việt Nam luôn tăng bốc và ca ngợi dân tộc Việt Nam một cách quá đáng. Họ luôn cho rằng dân tộc Việt Nam có 4 ngàn năm văn hiến, có tinh thần yêu nước nồng nàn, gan dạ, dũng cảm, cần cù, thông minh; có nền văn hoá cao, thâm thuý, có kho tàng thơ văn đồ sộ; và đất nước Việt Nam thì rừng vàng biển bạc, đất đai phì nhiêu. Ðể chứng minh những vấn đề trên, các sử gia và các nhà văn hoá Việt Nam thường sử dụng những tư liệu nghèo nàn, không thuyết phục, chủ yếu dùng những câu văn sáo rỗng nhằm để biện luận, ca ngợi, định giá cho một biến cố lịch sử và bảo vệ cho một quan điểm chính trị đương thời của một Ðảng phái hay một hình thái Nhà nước hoặc tăng bốc một di sản văn hoá Việt Nam. Ngược với những quan điểm trên, tác giả Nguyễn Gia Kiển nhìn lịch sử văn hoá và con người Việt Nam theo chiều ngược lại. Nguyễn Gia Kiển luôn tìm những cái yếu điểm, cái thiếu xót của dân tộc Việt để bình và phân tích với tất cả sự thật để tìm ra một hướng đi mới, tích cực cho dân tộc Việt Nam. Ðể chứng minh những luận điểm của mình, tác giả Nguyễn Gia Kiển đã đưa ra nhiều nguồn tư liệu phong phú (hơn 600 trang tư liệu đầy ắp) có sức thuyết phục. Ðây là điểm quý và mạnh của tác phẩm. Tuy nhiên, cách nhìn tác giả Nguyễn Gia Kiển cũng chỉ là một chiều. Tác giả chỉ mới nhìn thấy những khuyết tật của người Việt mà chưa thấy hết những cái hay của dân tộc Việt. Trong khi đó, nghiên cứu khoa hocï thì cần phải nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo từ nhiều chiều, nhiều góc độ khác nhau, kể cả những cái hay và những cái dỡ; cái đẹp và cái xấu, để đi đến nhận định vấn đề một cách khách quan, khoa học. Chính vì thế, độc giả cảm thấy tác phẩm của Nguyễn Gia Kiển vẫn là tác phẩm một chiều. Ðây là một khiếm khuyết, một nhược điểm đầu tiên dễ dàng nhận thấy trong cuốn sách của tác giả.

Một nhược điểm nữa khi viết, mặc dù tác giả phê phán con người Việt Nam thường đọc lịch sử là thụ động, không biết phê phán. Những nhà viết sử Việt Nam chưa có tính khách quan, còn mang tính giai cấp và địa phương khi nhận diện vấn đề. Tiếc rằng, chính tác phẩm của Nguyễn Gia Kiển vẫn chưa vượt qua được yếu điểm này của tư duy người Việt. Tác giả phê phán Trần Trọng Kim ca ngợi Nguyễn Huệ có công, vì Trần Trọng Kim là kẻ sĩ Bắc Hà thù ghét nhà Nguyễn (tr. 155-tr. 158). Ở một phần khác, tác giả phê phán Ðảng CSVN không yêu nước, chỉ đấu tranh giai cấp, phục vụ giai cấp vô sản (tr. 225-tr. 227, tr. 561). Nhưng chính tác giả lại mắc phải lỗi này. Ðộc giả sẽ nhận thấy thấp thoáng từng trang viết, tác giả không bình tĩnh, vẫn bộc lộ tính giai cấp là căm thù chế độ Cộng Sản, vì Cộng Sản giết chết cha, chú và bác của tác giả. Tác giả chỉ mơí 5 tuổi phải theo mẹ đi hầu tòa Cộng Sản. Lớn lên, sau 1975, bản thân tác giả và vợ bị Cộng Sản cầm tù, để cho đứa con gái đầu lòng của tác giả mới 6 tháng tuổi bị chết oan, vì không ai chăm sóc.Vấn đề này được tác giả trình bày ở các tr.VI-VII của lời nói đầu của cuốn sách và lặp lại ở các trang sau. Ðiều này làm cho độc giả hiểu rằng, đây là nguyên do và động cơ chính để tác giả đòi tự do và chống Cộng Sản, và lòng yêu nước của tác giả chỉ là theo sau. Chính những vấn đề này đã làm cho tác phẩm của Nguyễn Gia Kiển còn mang nặng tính giai cấp và mang hình thức của một diễn đàn chính trị để bảo vệ cho quan điểm và động cơ của mình.

Một điều nữa không ai chối cãi được mà cần lặp lại ở đây là trong tác phẩm của Nguyễn Gia Kiển tập trung nhiều nguồn tư liệu phong phú và đưa nhiều ví dụ, nhiều bằng chứng và nhân chứng. Nhưng tiếc rằng khi viết tác giả không chú thích nguồn tư liệu mà tác giả sử dụng, cũng như không ghi đầy đủ tên, tuổi của những nhân chứng, ngày giờ phỏng vấn (tr. 570-tr. 572). Ðây là thao tác kĩ thuật cần phải có khi viết một công trình khoa học nghiêm túc. Nếu khắc phục được điểm này, cuốn sách của tác giả càng có sức thuyết phục cao và dễ dàng cho đời sau sử dụng khi cần trích dẫn và tham khảo.

Cuốn sách của Nguyễn Gia Kiển tuy bố cục chặt chẽ, nhưng nhiều trang viết trùng lặp, nhiều vấn đề được lặp đi lặp lại nhiều lần. Chẳng hạn, tr. 32 nói về đạo Nho, thì tr. 58 lặp lại; tr. 53 nói về đê Sông Hồng, thì tr. 115-116 lặp lại v.v. Tác giả còn sử dụng nhiều từ ngữ không tế nhị (thô bỉ, vô lễ, mất vệ sinh. v.v) không phù hợp với một người có trình độ uyên thâm như tác giả.Ví dụ, «Ðàn ông Việt Nam là người chồng thô bỉ nhất thế giới» (tr. 58), «Các nước Á Ðông rất là vô lễ, nhất là các nước theo Khổng giáo» (tr. 58), «Gia nhập ASEAN(…) Ðảng CSVN (…) độc tài (…) trở thành lố bịch, thiếu văn minh và mất vệ sinh» (tr. 518) v.v. Thiết nghĩ tác giả có thừa khả năng để thay thế những từ trên bằng những mỹ từ khác mang nghĩa tương đương.

Một nhược điểm khác của cuốn sách này là tác giả thường dùng cách chuyển ý hoặc mở đầu cho mỗi phần, mỗi đoạn của cuốn sách bằng một bài thơ. Vấn đề này đã làm cho nội dung cuốn sách của tác giả gần giống với tác phẩm bình thơ hoặc là một tiểu thuyết hơn là một tác phẩm phân tích, phê bình lịch sử và văn hoá dân tộc Việt Nam. Nhược địểm này rất quan trọng, làm giảm nội dung và hình thức cuốn sách của tác giả.

Một nhược điểm cuối cùng, bao trùm và có ý nghĩa quyết định đến nội dung và ý nghĩa của cuốn sách Tổ Quốc Ăn Năn là không biết tác giả Nguyễn Gia Kiển «Ăn Năn» cái gì mà không đề cập đến cuộc Nam Tiến của người Việt và sự diệt vong của vương quốc Champa. Ðây là chủ đề chính mà chúng tôi quan tâm. Trong cuốn sách Tổ Quốc Ăn Năn dày 615 trang nhưng tác giả chỉ trình bày về Champa và các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam một cách vắn tắt chưa đầy nửa trang (ở tr. 201). Tác giả thừa biết rằng lịch sử Việt Nam ngày nay không chỉ giành riêng cho dân tộc Việt (Kinh) mà là lịch sử chung của các dân tộc, trong đó có Champa. Dù vô tình hay cố ý, dù biện minh cho bất cứ một lí do gì, chủ quan hay khách quan, thì một điều rõ ràng mà mọi người đã thấy là hậu quả Nam Tiến của người Việt suốt hơn 8 thế kỉ (khởi đầu từ thế kỉ 11 đến thế kỉ 19) đã in đẫm màu máu hoen ố, dã man trên trang sử Ðại Việt đối với dân tộc Champa mà người Việt cần phải «Ăn Năn» và sám hối để cho kiếp sau khỏi bị hệ lụy. Hậu quả Nam Tiến của người Việt còn đưa dân tộc Champa trở thành kẻ vong quốc, vong thân mà đến hôm nay người Champa vẫn còn bị áp bức, phân biệt, đối xử không bình đẳng như là một công dân ngoại lệ trên lãnh thổ Việt Nam. Thế mà trong tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn, tác giả Nguyễn Gia Kiển không có một đoạn văn, một trang nào đưa ra phân tích về cuộc Nam Tiến của người Việt để mà kêu gọi dân tộc Việt, chính quyền Việt Nam dù bất cứ chế độ nào, Cộng Hoà hay Cộng Sản phải biết «Ăn Năn» có biện pháp và chính sách thiết thực để xây dựng và phát triển dân tộc Champa một cách hợp lí trên lãnh thổ Việt Nam. Ngược lại, Nguyễn Gia Kiển chỉ biết tập trung suy nghĩ, «Ăn Năn» cho những bước thăng trầm của lịch sử và tương lai của dân tộc Việt. Và nếu như vậy, đến đây cụm từ «Tổ Quốc Ăn Năn» trong tác phẩm của Nguyễn Gia Kiển mất hết cả nội dung và ý nghĩa của nó.

*

Tóm lại, Cuốn sách Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiển thuộc loại công trình khảo cứu về lịch sử, văn hoá, nghị luận chính trị, hay là tác phẩm bình thơ hoặc là một tiểu thuyết. Thú thật khi đọc xong cuốn sách và ngay đến khi viết dòng cuối này, chúng tôi không biết xếp cuốn sách này vào loại nào? Có lẽ tổng hợp tất cả những thể loại trên. Tuy nhiên, một số nhược điểm nêu trên của cuốn sách là không đáng kể so với những đóng góp của tác phẩm. Ðây là cuốn sách đáng cho mọi người đọc và suy ngẫm. Nếu lần sau tái bản, tác giả nên bổ sung những chú thích để làm rõ nguồn gốc tư liệu, lượt bỏ vài đoạn ý, trùng lặp và nên để giành một số trang thích đáng cho lịch sử Champa khi viết về lịch sử của dân tộc Việt Nam. Nếu làm được điều này thì chắc cuốn sách sẽ tăng thêm giá trị khoa học như là một công trình khảo cứu đáng tin cậy về đất nước và con người Việt Nam, cũng như là một cuốn sách cẩm nang khởi đầu cho ai là con người Việt Nam muốn đấu tranh thực sự, không mị dân, để hướng tới vì một nền dân chủ, tự do, công bằng và bác ái.

***

LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC CHAMPA CỦA LƯƠNG NINH

Lịch Sử Vương Quốc Champa của Lương Ninh, Nhà xuất bản Ðại học Quốc gia, ấn hành tại Hà Nội, năm 2004, 352 trang. Sách gồm có 5 phần: Phần I – Thời tiền sử và sơ sử; Phần II – Thời sơ kì vương quốc Champa (thế kỉ II-X); Phần III – Thời kì Vijaya (thế kỉ X-XV); Phần IV – Sự phát triển kinh tế-xã hội Champa; Phần V– Champa thời hậu kì (sau năm 1471); Phần cuối cuốn sách là phụ lục và tư liệu tham khảo. Ðây là cuốn sách đầu tiên của học giả Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử vương quốc Champa kể từ sau 1975 đến nay.Vì vậy, sự ra đời cuốn sách này đã gây sự chú ý cho giới nghiên cứu và độc giả.

Nói đến lịch sử vương quốc Champa người ta nghĩ ngay đến các cuốn sách của tác giả nổi tiếng người Pháp, trong đó có tác phẩm Le Royaume de Champa (Vương quốc Champa) của G. Maspero[6], mặc dù có một vài khiếm khuyết nhỏ, nhưng vẫn được xem như là cuốn sách có giá trị viết về lịch sử vương quốc Champa mà đến nay chưa có một cuốn sách nào xứng đáng để thay thế nó. Nhưng cho đến nay, một điều đáng mừng là cuốn sách Lịch sử Vương quốc Champa của Luơng Ninh ra đời góp thêm cho ngành khoa học lịch sử Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu Champa một công trình mới. Nhưng rất tiếc rằng, cuốn sách này có nhiều quan điểm lịch sử bất cập, sai lầm cần phải xem xét và chỉnh đốn lại. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ nêu ra một số yếu tố sai lầm quan trọng, hoàn toàn ngược lại với nền tảng cơ bản của lịch sử Champa.

Sai lầm về cách phân kỳ lịch sử

Ngay từ lời nói đầu, tác giả đã phê phán những công trình nghiên cứu lịch sử Champa của các tác giả người Pháp. Ðể mở đầu cho quan điểm của mình, Lương Ninh cho rằng cuốn sách Vương quốc Champa của Maspero «nó đã quá xưa cũ, kể cả tài liệu và quan điểm. Những chỗ sai (…) đã bị khơi sâu, gây tâm lí tị hiềm trong lòng dân tộc» (tr. 1). Mặc dù là vậy, nhưng cuốn sách của tác giả còn tệ hại hơn không có đóng góp gì mới thêm cho lịch sử vương quốc Champa. Ngay cả cách phân kì lịch sử của vương quốc Champa, Lương Ninh vẫn theo lối mòn cách phân kì lịch sử vương quốc Champa của tác giả người Pháp như Maspero.

Sai lầm về niên đại cuối cùng Champa

Một điều đáng lưu ý, đa số các sử gia khi viết lịch sử Champa chỉ chú ý những sự kiện lịch sử trước ngày sụp đổ thành Ðồ Bàn vào năm 1471. Còn những năm sau đó, vì thiếu tư liệu, họ ít quan tâm hoặc viết rất sơ lược và còn đưa ra nhiều mốc lịch sử khác nhau về sự tồn tại của vương quốc Champa sau năm 1471. Trong cuốn Lịch sử vương quốc Champa, tác giả Lương Ninh cho rằng «Năm 1693 đánh dấu một mốc rất quan trọng, Chiêm Thành cũng không tồn tại với tư cách một quốc gia riêng biệt mà trở thành một phần lãnh thổ của chính quyền Ðàng Trong, sau đó trở thành một tỉnh của nước Việt Nam» (tr. 220).
Nói đến lịch sử Champa sau năm 1471, Po Dharma[7] đưa ra những dữ kiện lịch sử hoàn toàn khác hẳn với quan điểm của Lương Ninh. Theo Po Dharma, năm 1692 (chứ không phải 1693 như Lương Ninh viết), nhà Nguyễn xua quân chinh phạt Champa, sau đó thay đổi danh xưng Chiêm Thành (Champa) thành Trấn Thuận Thành và sáp nhập vương quốc này vào lãnh thổ Việt Nam. Năm 1693, nhân dân Champa vùng dậy đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi vương quốc này. Vì không thể kháng cự với sự vùng dậy này, Nhà Nguyễn chấp nhận tái lập lại vương hiệu Panduranga-Champa, với điều kiện là vương quốc này chấp nhận sự hình thành phủ Bình Thuận đầu tiên trong biên giới chính trị của Panduranga-Champa, nhằm cai trị trực tiếp các cư dân Việt sống rải rác trên lãnh thổ này. Năm 1771, chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh đã biến Panduranga-Champa thành bãi chiến trường đẫm máu giữa hai thế lực của người Việt. Thế là định mệnh sống còn của Panduranga-Champa hoàn toàn tùy thuộc vào kết quả của chiến tranh này. Năm 1802, Nguyễn Ánh thành công, lên ngôi lấy danh hiệu là Gia Long. Ðể đền đáp công lao của những nhận vật đã có công giúp đỡ ngài trong chiến tranh chống Tây Sơn, Gia Long giao cho Po Saung Nhung Ceng quyền cai trị xứ sở Panduranga-Champa mà sử liệu Việt Nam hay tư liệu hoàng gia Champa viết bằng tiếng Hán gọi là «Thuận Thành Vương». Năm 1832, Hoàng đế Minh Mệnh xua quân trừng phạt Panduranga-Champa vì tội theo Lê Văn Duyệt và xóa bỏ vương quốc này trên bản đồ Ðông Dương.
Po Dharma cũng nhấn mạnh rằng, sau năm 1692, Panduranga-Champa vẫn có một tổ chức hành chánh riêng, một quân đội riêng, hệ thống thuế má riêng, hay nói một cách khác Panduranga-Champa này là một vương quốc độc lập, dù sự độc lập đó nằm trong qui chế bảo hộ của triều đình Huế.
Ðể chứng minh luận điểm này, bằng nhiều nguồn sử liệu mới, đặc biệt văn bản cổ Champa, bi kí Champa, những nhật ký của các nhà truyền giáo hay các thương thuyền Phương Tây có mặt ở Champa vào thời điểm đó và có so sánh với biên niên sử Việt Nam, tác giả Po Dharma đã trình bày tư liệu này một cách công phu, có hệ thống và có sức thuyết phục trong tác phẩm của ông ta liên quan đến những ngày cuối cùng trong sự liên hệ chính trị và quân sự giữa vương quốc Panduranga-Champa và chính quyền Việt Nam. Tác phẩm này gồm 2 tập, dày 425 trang. Sau này, luận điểm Po Dharma được xem như là một phát hiện mới khá quan trọng trong lịch sử 33 năm sau cùng (1802-1835) của vương quốc Champa được đăng tải nhiều lần trong sách báo từ 1987 đến nay[8]. Trong khi đó, Lương Ninh chỉ dành voœn vẹn 15 trang để nói về lịch sử Champa «Từ trấn Thuận Thành đến phủ Bình Thuận» (Chương 13, tr. 223-227), với lối viết sơ sài và dựa trên tư liệu rất là nghèo nàn. Tác giả chỉ sử dụng sơ lược một số nguồn thư tịch cổ Việt Nam[9] để nghiên cứu vấn đề, nhưng lại vội vàng đi đến phủ nhận quan điểm lịch sử của Po Dharma cho rằng vuơng quốc Champa vẫn còn «tồn tại như một quốc gia cho đến 1832[10]» (tr. 222-223) là không đúng. Khi phủ nhận quan điểm lịch sử của Po Dhama, tác giả Lương Ninh viết một câu kết luận khập khiễng và ngọng ngịu như sau: «Nên thiết tưởng là đúng này thực ra lại là không đúng».
Cũng cần nói ngay rằng, trong thời đại thông tin bùng nổ ngày nay, độc giả không thể chấp nhận được khi nghiên cứu về Champa, tác giả Lương Ninh chỉ sử dụng duy nhất một số nguồn thư tịch cổ Việt Nam để định nghĩa qui chế chính trị của một quốc gia láng giềng mà Việt Nam xem đó là đối tượng thù địch. Cũng nên nhớ rằng, tư liệu cổ Việt Nam thường khẳng định hoặc giải thích theo quan điểm của vua chúa Việt Nam nhằm đáp ứng cho mục tiêu chính trị hay quân sự của vua chúa này. Chính vì thế, tư liệu này không mang tính khách quan và có nhiều khiếm khuyết. Chẳng hạn sau ngày thất thủ Vijaya vào năm 1471, biên niên sử Ðại Việt không còn nói đến Champa suốt gần một thế kỷ. Và thư tịch cổ Trung Hoa cũng vậy. Quyển Minh-Che[11] có ghi nhận một sứ quán Trung Hoa ở xứ Champa vào năm 1478; một sự tấn phong cho hoàng tử vị T’chai Ya Ma Fou Ngan (Bố Trì Trì?) vào giữa năm 1478 và 1505; một sự tấn phong mới cho con của vị vua nói trên vào năm 1515; và một đại sứ của Champa đến Trung Hoa vào năm 1543. Ðó là những thông tin cuối cùng mà nguồn tư liệu Trung Hoa nói đến Champa.
Ðiều đáng ngạc nhiên ở đây đó là Lương Ninh viết lịch sử Champa, nhất là lịch sử sau năm 1471, nhưng tác giả gạt bỏ hoàn toàn tư liệu viết bằng tiếng Chăm liên quan đến vương quốc này. Có chăng tác giả không muốn đọc hay không biết đọc chữ Chăm? Ðây là một lối làm việc tắc trách của một nhà sử học.
Trong kho tàng văn chương Chăm, các bài kí sự viết bằng chữ Chăm như Ariya Po Cei Brei, Tuen Phaow, Po Ceng, Po Phaok, v.v. là một tư liệu lịch sử quan trọng liên quan đến sự kiện 33 năm sau cùng của vương quốc Champa 1802-1835 [12]. Tiếc rằng, tác giả Lương Ninh lại bỏ qua và không bao giờ nhắc đến. Những bài kí sự này có nội dung hoàn toàn khác biệt với quan điểm của vua chúa Việt Nam và không nhằm mục đích khẳng định tư kiến của quốc gia Champa, hoặc giải thích chính thể hợp pháp của triều đại Champa thời đó. Ðó không phải là những bản văn chính thức của triều đình Champa mà là những bài kí sự viết về các vị vua chúa của vương quốc này, về các cuộc nổi dậy chống lại triều đình Huế cũng như chống lại một số nhà lãnh đạo Champa của họ. Trong bài kí sự này, tác giả thường nói đến cuộc sống hàng ngày và sự thống khổ của dân chúng Champa thời đó. Họ là nhân chứng lịch sử kể lại những cốt truyện mà họ đã nghe, đã thấy với chính con mắt của mình [13]. Bao nhiêu thông tin từ văn bản cổ Champa có thể cho phép cho các nhà sử học Việt Nam kiểm chứng lại và bổ túc những tài liệu của mình. Nhưng tác giả Lương Ninh lại bỏ qua không đề cập. Ðiều này đủ cho thấy rằng, Luơng Ninh là phiến diện, không đủ tầm nhìn trên mọi góc độ của lịch sử vương quốc Champa.

Sai lầm về thể chế chính trị

Hết phủ nhận quan điểm Po Dharma về năm tháng cuối cùng của triều đại Champa (1832), tác giả Lương Ninh còn phê bình học giả nước ngoài về khái niệm Madala, thể chế liêng bang của Champa. Theo tác giả, Champa không thể là một quốc gia liên bang được nhưng ông ta không đưa ra một dữ kiện lịch sử nào để chứng minh. Trang 152, tác giả viết «với lí thuyết Mandala [có nghĩa là liên bang, nếu đem áp dụng ở đây, tôi chỉ đồng ý một nữa».
Sự sai lầm của tác giả Lương Ninh về thể chế chính trị Champa có một tác hại to lớn đến nền tảng cơ bản của lịch sử Champa. Cùng theo quan điểm với Lương Ninh, hai nhà viết lách Dohamide và Dorohiem [14] lặp đi lặp lại sự sai lầm này trong tác phẩm xuất bản vào năm 2004. Ngoài ra, Dohamide và Dorohiem tự chế biến một lý luận rồi gán cho L. Finot [15] là người đã đem ra kết luận: ‹‹vương quốc Champa hợp thành một cơ cấu quốc gia thống nhất chứ không phải là một chuỗi các tiểu vương quốc độc lập nhỏ bé››. Tiếc rằng L. Finot chỉ nói rằng triều đại Bhadravarman I (380-413) là vương triều duy nhất đã xây dựng thể chế chính trị Champa dựa theo hệ thống quốc gia thống nhất và trung ương tập quyền theo kiểu Ðại Việt và Trung Hoa. Tiếc rằng, thể chế này chỉ xảy ra ở một triều đại Bhadravarman trong vòng 33 năm, cho nên không thể nhân danh một triều đại này để kết luận cho toàn bộ một thể chế chính trị của lịch sử vương quốc Champa.
Ðiều mà chúng tôi xin mở ngoặc ở đây, L. Finot và E. M. Durand [16] là hai nhà khoa học Pháp đã nêu ra lý thuyết vào đầu thế kỷ thứ 20 cho rằng Champa không phải là một quốc gia tập quyền như thể chế chính trị Việt Nam. Nối gót L . Finot và E . M. Durand, các sử gia Pháp[17] tiếp tục chứng minh rằng Champa tập trung bốn tiểu vương quốc (chứ không phải là Tỉnh hay Ðạo) để thành lập một «quốc gia liên bang» (fédération) và đôi lúc cơn là một «vương quốc liên hiệp» (conféderation), tùy theo sự tiến trình lịch sử của vương quốc trong không gian và thời gian.
Panduranga ở miền nam là một tiểu vương quốc cung cấp cho nhà khoa học rất nhiều tin tức liên quan đến thể chế chính trị ở Champa thời đó. Nói đến Panduranga, hầu hết các sử gia chuyên về Champa mà chúng tôi đã nêu ở phần trên đều đưa ra một nhận định chung. Theo lời kết luận của các tác giả này, Panduranga không phải là đơn vị hành chánh của Champa tương đồng với Tỉnh hay Ðạo trong tổ chức hành chánh Việt Nam. Panduranga là một tiểu vương quốc có vua chúa riêng biệt, có thủ đô (Virapura), quân đội, hệ thống hành chánh, thuế má và biên niên sử riêng biệt. Tiểu vương quốc này sẵn sàng sống chung trong một biên giới chính trị của Champa, nhưng không phải vì thế mà họ chấp nhận mọi quyết định của vua Champa ở trung ương không phù hợp với quyền lợi của họ và nếu cần, họ xua quân chống lại triều đình trung ương hay họ tìm cách tách rời ra khỏi lãnh địa của Champa để thành lập một quốc gia riêng biệt.
Ðứng đầu của vương quốc liên bang Champa không phải là Patao [18] nhưng là Rajadiraja (vua của vua), thường do các vị vua của tiểu vương quốc tôn vinh. Nhưng đôi lúc ông ta cũng thường dựa trên oai quyền quân sự ở tiểu vương quốc mình để chiếm đoạt tôn hiệu Rajadiraja. Hệ thống tổ chức liên bang Champa thời cổ có rất nhiều điểm tương đồng với tổ chức liên bang Mã Lai hôm nay. Có chăng tác giả Lương Ninh không đọc đến lịch sử của dân tộc Mã Lai, cùng chung một gia đình ngôn ngữ và văn hóa Champa.

Một khi đã định nghĩa rằng Panduranga không phải là một Tỉnh hay Ðạo của Champa, nhưng là một tiểu vương quốc của Champa, các sử gia chuyên về Champa trong đó có Gs . P-B. Lafont và Po Dharma[19] đưa ra gần đây lời kết luận rằng Champa không phải là một quốc thống nhất trung ương tập quyền như thể chế ở Việt Nam hay Trung Hoa, nhưng là một quốc gia liên bang (fédération) và đôi lúc cơn gọi là liên bang quốc gia (confédération), vì Panduranga, đã mấy lần trong lịch sử, tự phong cho mình là quốc gia độc lập[20].

Sai lầm về thành phần dân tộc

Ngoài sự sai lầm về thể chế chính trị, tác giả Lương Ninh không tán thành quốc gia Champa là vương quốc đa sắc tộc. Trang 155, tác giả còn viết «nếu coi đó [Champa] là nhà nước liên minh đa sắc tộc thì đã không phản ánh đúng thực tế lịch sử».
Champa không phải là vương quốc của dân tộc Chăm như Lương Ninh hiểu lầm mà là một quốc gia đa sắc tộc. Nhiều nhà sử học, trong đó có B . Gay, Po Dharma là nhà nghiên cứu cuối cùng viết bài vào năm 1987-1988[21] để chứng minh rằng dân tộc Champa bao gồm tất cả sắc dân sống trong biên giới chính trị của Champa thời trước, trong đó có sắc dân Tây Nguyên như Jarai, Rađê, Koho, Cru, Raglai, v.v. và sắc dân Chăm sống ở miền duyên hải. Tất cả dân tộc Champa đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Ðây là một vài thí dụ để chứng minh cho lý thuyết họ. Năm 1151, hoàng tử Vamsaraja, anh rể của vua Jaya Harivarman I đóng đô ở Vijaya kêu gọi anh em Tây Nguyên mà bia ký gọi là Radé, Mada, v.v. vùng dậy chống lại tân vương này vì họ cho rằng Jaya Harivarman I là vua cướp ngôi. Trong những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm từ thời chiến tranh với Mông Cổ vào năm 1283, vua chúa Champa thường chọn khu vực Tây Nguyên làm cứ điểm của mật khu. Các thành viên đấu tranh này không phải chỉ là dân tộc Chăm mà tập trung nhiều sắc dân Tây Nguyên. Chỉ cần đọc các cuộc vùng dậy của Tuan Phaow (1796), Katip Sumat (1833) và Ja Thak Wa (1834)[22], độc giả có thể trả lời cho quan điểm sai lầm của Lương Ninh về sắc dân Champa.
Ðiều mà chúng tôi muốn lưu ý ở đây đó là cụm từ Chăm không bao giờ xuất hiện trên bi đá. Nói đến nhân dân của vương quốc này, bi đó gọi họ là urang Champa (người Champa). Nói đến vua chúa vương quốc này, bia đá viết là Raja Champa (vua Champa). Nói đến đền tháp Champa, bia đá dùng từ kalan Champa (đền tháp Champa).
Nếu Lương Ninh cho rằng Champa là vương quốc của người Chăm, tại sao vua chúa của vương quốc này không dùng cụm từ Chăm để xác nhận nguồn gốc của họ trên bia đá. Nếu họ không gọi họ là Raja Chăm (vua Chăm) mà là Raja Champa (vua Champa), thì họ có một lý do chính đáng mà các nhà nghiên cứu cần tra cứu lại.
Champa là vương quốc đa chủng. Mỗi sắc dân có quyền và nghĩa vụ ngang nhau. Chính vì thế, vào những thế kỷ thứ 16 và 18, nhiều sử liệu còn chứng minh rằng Po Romé, người đứng ra thành lập một triều đại từ năm 1627-1796 [23] ở tiểu vương quốc Panduranga không phải là vua gốc Chăm nhưng là Churu. Thêm vào đó, tài liệu hoàng gia Panduranga viết vào năm 1702-1810 chỉ xem người Chăm là một thành phần của sắc dân ở tiểu vương quốc này. Hàng loạt văn kiện hoàng gia Panduranga còn cho biết là có nhiều người Raglai và Churu giữ một số quyền hành quan trọng trong triều đình thời đó và thường hay than phiên với vua chúa là một số binh lính người Chăm thường hay trốn tránh trách nhiệm. Năm 1834, nhà cách mạng Ja Thak Wa đã chọn một người Raglai lên làm vua Panduranga, một người Churu như một hoàng tử kế vị, và một người Chăm như vị chỉ huy trưởng quân đội chứng tỏ một lần nữa xứ sở Champa thật sự là một quốc gia đa dân tộc[24].
Một vài thí dị điển hình mà chúng tôi đã chứng minh ở phần trên cho thấy rằng quan điểm của Lương Ninh cho rằng Champa là một lãnh thổ chỉ có những người Chăm cư ngụ và được cai trị bởi những quan lại người Chăm là hoàn toàn sai lầm.

Một tác phẩm không có gì mới lạ

Trong tác phẩm này, Lương Ninh chỉ lặp đi lặp lại những tư liệu quá cũ, không chính xác, không có gì mới lạ mặc dù tác giả phê phán tác giả người Pháp viết về Champa là lỗi thời, cũ rích (tr. 1). Khi bàn về bi kí Champa vùng Phan Rang (tr. 37), Lương Ninh cho biết «trên đất Phan Rang có khoảng 10 minh văn». Thực ra, đây chỉ là số liệu bi kí cũ của người Pháp thống kê trên đất Phan Rang từ đầu thế kỉ XIX. Ngoài bi kí đã được người Pháp thống kê[25], những nhà nghiên cứu địa phương Ninh Thuận đã phát hiện nhiều bi kí mới [26], nhưng tác giả không cập nhật được thông tin khoa học, đó là điều đáng tiếc !
Thêm một điểm lỗi thời, lạc hậu nữa trong cuốn sách Lương Ninh là khi viết về dân số người Chăm. Mặc dù sách của Lương Ninh xuất bản vào năm 2004, nhưng tác giả dùng số liệu thống kê dân số người Chăm năm từ 1989 (sai lệch quá nhiều), trong khi đó tác giả quên đi tổng điều tra dân số của Việt Nam vào ngày 1/1/1999 liên quan đến dân số của người Chăm ở Việt Nam (133.000 người) đã được phổ biển rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và các sách báo Việt Nam[27].
Cuốn sách của Lương Ninh còn chứa đựng một số lập luận mơ hồ. Trang 228, khi đề cập đến văn bản chữ Chăm, tác giả viết «Một số cơ quan nước ngoài vẫn cử người đi du lịch nhưng đi vào dân, thuê người dân tiếp tục tìm kiếm những bản thảo còn lại (nghe nói không phải là ít)». Viết sách khoa học mà tác giả Lương Ninh «chỉ nghe nói», không có bằng chứng để chứng minh cho quan điểm của mình là điều không thể chấp nhận được.
Trong tác phẩm này, tác giả có đề cập đến «Tôn giáo và tín ngưỡng của người Chăm từ 1471 đến nay» [28]. Ðây là một cơ hội tốt để tác giả Lương Ninh bổ sung thêm những phát hiện mới đã đăng tải trên các mạng sách khoa học Việt Nam liên quan đến tín ngưỡng và văn hóa người Chăm. Tiếc rằng tác giả không đóng góp gì về mới lạ về phần này, mà còn làm sai lệch dữ kiện lịch sử tôn giáo Champa.

Liên quan đến dữ kiện lịch sử, tư liệu khai quật khảo cổ học Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2001, Lương Ninh có đưa ra một danh sách trong thư mục tham khảo của mình (tr. 346-347) nhưng tiếc rằng những tư liệu nghèo nàn này không chứng minh được cho quan điểm khoa học mà Luơng Ninh đã đặt ra trong cuốn sách. Thế thì tác phẩm Lịch sử vương quốc Champa của Lương Ninh không có gì mới, chỉ là một công trình sao chép lại những gì mà các nhà khoa học thế giới đã viết và xuất bản. Dù là sao chép lại nhưng Lương Ninh còn vấp phải bao lỗi lầm về nội dung bài biết bằng tiếng Anh hoặc Pháp mà Lương Ninh dịch ra tiếng Việt. Ví dụ khi viết về Hồi giáo Chăm (tr.193-197), tác giả không chỉ chép nguyên văn tư liệu mà còn copy cả ý tưởng của P. Y. Manguin[29] mà không có dẫn một chú thích. Ðiều đáng nói ở đây, đã copy rồi mà còn copy sai, tuỳ tiện bỏ cả chú thích tư liệu gốc của tác giả P. Y. Manguin.
Ở phần khác (tr. 239-305) tác giả Lương Ninh giới thiệu văn bi kí Chăm, nhưng tác giả cũng không cho biết nguồn tư liệu này phát xuất từ đâu, đăng trong sách, tạp chí nào. Sự khuyết diện nguồn tư liệu này đã đưa độc giả ngộ nhận rằng chính Lương Ninh là người dịch các bia kí Champa từ chữ Phạn và chữ Chăm gốc ra tiếng Việt mà thực ra bi kí Champa là do các tác giả người Pháp đã dịch và công bố rải rác trên BEFEO từ 1903-1933 và sau này tác giả R . C. Majumdar [30] đã tập hợp xuất bản thành sách. Tóm lại, tác giả Lương Ninh chỉ có công dịch thuật từ tiếng Pháp, Anh sang tiếng Việt. Qua hai ví dụ trên cho thấy thái độ khoa học của tác giả như thế nào đối với các bậc tiền bối của ông? Ðây là một thái độ hoàn toàn đi ngược lại với qui luật khoa học trên thế giới.

Một văn chương đế quốc

Một vấn đề khác đáng bàn ở đây đó là tư tưởng đế quốc của Lương Ninh liên quan Lịch sử Vương quốc Champa. Khi đọc sách này, độc giả có cảm tưởng rằng Lương Ninh không phải là nhà khoa học chân chính, vô minh. Vì khi viết sách Lịch sử Vương quốc Champa, tác giả thường hay bộc lộ tư tưởng của một dân tộc lớn (người Việt) tức là một dân tộc thắng trận để viết về dân tộc Champa, tức là dân tộc thua trận, mà ông xem họ chỉ là người man di, tất yếu phải bị mất nước và làm nô lệ. Cho nên khi viết về Champa, tác giả luôn tìm cái yếu kém, cái mâu thuẫn trong nội bộ của vương quốc này (tr. 219) mà không thấy được những nét đặc trưng riêng biệt, từ tổ chức chính trị, quân sự đến ý thức hệ chiến tranh và bang giao giữa các nước láng giềng, đã diễn ra trong tiến trình lịch sử của vương quốc Champa. Một thí dụ điển hình đó 2 triều đại Chế Bồng Nga và Po Romé mà các nhà sử gia vẫn gọi là «triều đại vàng son» của vương quốc này[31]. Ngược lại, Lương Ninh lại phủ nhận quan điểm trên để rồi kết luận rằng triều đại Chế Bồng Nga (1360-1390) chỉ là «tia nắng quái của buổi hoàng hôn» (tr. 107) và triều đại Po Romé (1625-1651) «là một ánh sáng nhưng là một ánh sáng thấy được trong buổi chiều tà» (tr. 214). Kết luận với lời văn châm biếm và mĩa mai này đã cho độc giả thấy rằng tác phẩm Lịch sử Vương quốc Champa của Lương Ninh chỉ là công cụ để bào chữa tư tưởng đế quốc của tác giả thì đúng hơn.
Khi viết về văn hoá Chăm, ông ta còn có giọng mĩa mai cho rằng «dân tộc này cũng thích suy tư». Cũng nên nhắc lại rằng, dân tộc Chăm không những «thích suy tư» mà còn phải suy tư, trăn trở rất nhiều về thân phận vong quốc của mình, mất tự do về sự bảo tồn và sáng tạo nền văn hoá của chính họ trước sức ép của cộng đồng người Kinh càng ngày càng tăng trưởng gấp bội.
Tác giả Lương Ninh còn cho rằng văn hoá Chăm chỉ là tàn dư của văn hóa Việt: «với những chiếc áo dài mang rõ nét ảnh hưởng của chiếc áo dài Việt (…)» (tr. 222). Ðây là lối lập luận phi khoa học. Áo dài Chăm có cùng nguồn gốc với áo dài Mã Lai mang tên là Baju Kurung, không liên hệ gì với áo dài Việt Nam cả. Ðúng ra, Lương Ninh phải nói dân tộc Việt đã chịu ảnh hưởng nặng nề văn hóa của dân tộc Champa thì đúng hơn. Một bằng chứng cụ thể đó là người Việt ảnh hưởng Champa về tục thờ bà Thánh Mẫu (Thiên Y Ana) ở Huế và Nha Trang[32]; Nhạc Việt ảnh hưởng nhạc Champa dưới thời Lý Thánh Tông. Người Việt còn tiếp thu ở người Champa kĩ thuật đê điều, dẫn thủy nhập điền, giống luá Chiêm, nón lá [33], tục thờ cá ông, kĩ thuật đi biển, kỹ nghệ làm ghe thuyền[34]v.v. Ngược lại, dân tộc Champa, dù là kẻ thất bại, nhưng chỉ tiếp thu từ người Kinh, một dân tộc chiến thắng, một vài nét văn hóa như hoa văn chạm trổ trên gỗ của vách tường hay trên ngôi đình vừa mới xây cất gần đây.
Trong tác phẩm Lịch sử vương quốc Champa, tác giả Luơng Ninh còn có một chuyện nực cuời trong lí luận. Một lí luận duy nhất của tác giả để lí giải chiến tranh giữa Ðại Việt và Champa trong suốt 352 trang sách chỉ có một nguyên do duy nhất là vì vương quốc này thường hay cướp phá và không nộp cống cho nên đại Việt đem quân đánh (tr. 81, 82, 85 và187…). Ngược lại khi Champa xuất quân tấn công Ðại Việt nhằm đòi lại đất đai bị chiếm đóng vào năm 1069, 1306, 1471, 1611 và 1653, Lương Ninh cho rằng Champa đem quân cướp phá (tr. 113, 220và 217, v.v.).

Sai lầm về ý thức hệ chiến tranh và qui chế triều cống

Nói đến triều cống, tác giả Lương Ninh ít ra cũng nên xác định một cách chính xác thế nào là qui chế triều cống của Ðại Việt đối với nước láng giềng trước khi áp dụng cụm từ này trong bài viết của mình. Ai cũng biết, Ðại Việt chịu ảnh hưởng nền văn minh Trung Hoa luôn luôn xem các nước khác trên thế giới này là chư hầu của mình, tức là phải có nghĩa vụ triều cống cho mình. Ðây là một tư tưởng chủ nghĩa đế quốc mà Ðại Việt là quốc gia duy nhất trong khu vực Ðông Nam Á thừơng hay áp dụng.
Ðối với Champa, một vương quốc chịu ảnh hưởng nền văn minh Ấn Ðộ giáo, họ không bao giờ chấp nhận triều cống bất cứ ai, nhất là nước Ðại Việt mà họ gọi là Nagara Yavana (hôm nay gọi là Nagar Yuen), tức là quốc gia của những người ngoại lai. Ngược lại, vương quốc Champa luôn luôn tìm cách phát triển mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia láng giềng qua các món quà thân hữu do các phái bộ ngoại giao của họ mang đến tặng. Tiếc rằng, mỗi lần Champa mang quà thân hữu sang Thăng Long, triều đình Ðại Việt lại ghi trong biên niên sử của mình là vật triều cống của Champa. Ngay cả món quà mà các nước Thai Lan, Tây Ban Nha, Pháp, v.v. gởi đến Ðại Việt, biên niên sử Việt Nam vẫn rêu rao là vật triều cống họ. Chỉ cần đọc tác phẩm Quốc Triều Chánh Biên[35] dưới thời vua Gia Long, độc giả sẽ thấy một danh sách dài của các nước mà vua chúa Việt Nam gọi là chư hầu của họ trong đó có cả Thái Lan và Pháp.
Ðiều cần nhấn mạnh ở đây, triều cống tức là qui chế dâng lễ vật có định kỳ rõ rệt mà các quốc gia nhỏ bé hay thua trận phải dâng hiến cho quốc gia hùng mạnh để bày tỏ sự thần phục của mình. Một khi đã triều cống, quốc gia chư hầu không bao giờ dám vùng dậy chống lại quốc gia hùng mạnh đó. Ðối với Champa, qui chế triều cống cho Ðại Việt chỉ là một cốt truyện do Ðại Việt bịa đặt nhằm tôn vinh oai quyền các nhà lãnh đạo của mình thì đúng hơn. Vì không lần nào sử liệu Champa nói đến vấn đề triều cống nước láng giềng. Một số điều rất là mâu thuẫn mà người ta đã nhận thấy đó là Champa thường hay xua quân tấn công Ðại Việt sau vài tháng mà họ mang quà sang “triều cống”.
Một thí dụ điển hình mà chúng tôi đưa để chứng minh qui luật lu mờ trong qui chế triều cống này, đó là trong vòng 135 năm (1059-1194), biên niên sử Ðại Việt có ghi lại 46 lần triều cống của Champa. Tiếc rằng những niên đại triều cống không được qui định rõ rệt và các món quà hoàn toàn có giá trị khác nhau. Một khi tổng kết lại danh sách món quà triều cống mà biên niên sử đưa ra, chúng ta thấy rằng trong khoảng thời gian 135 năm đó, Champa chỉ ”triều cống” cho Ðại Việt năm món quà có giá trị đó là bốn con voi trắng và một con ngựa trắng. Ðối với Champa, đây chỉ là món quà quá nhỏ nhoi và bất thường mà vương quốc này thường mang sang Ðại Việt trong những lần viếng thăm của phái bộ Champa chứ không phải là lễ vật ”triều cống” như tác giả Lương Ninh hiểu lầm. Sau năm 1692, tức là thời kỳ mà Panduranga-Champa bị đặt dưới quyền đô hộ của nhà Nguyễn, qui chế triều cống bắt đầu rõ hơn, nhưng định kỳ của triều cống này vẫn còn lu mờ[36].
Dù các nhà sử học Việt Nam có biện minh như thế nào đi nữa về hành động xâm lược Champa, nhưng họ không thể che dấu được chính sách đế quốc của Ðại Việt đối với Champa mà biên niên sử Việt Nam là nhân chứng lịch sử. Mặc dù Champa đã triều cống rồi nhưng Ðại Việt vẫn xuất quân tấn công Champa. Căn cứ vào biên niên sử và tư liệu Ðại Việt mà Lương Ninh đã ghi ra «trong 2 năm 1830-1831, quan hệ ngoại giao diễn ra nhộn nhịp (…) Champa cử sứ thần sang triều cống. Tất nhiên nhà Nguyễn không bằng lòng như thế, mà cần xúc tiến việc chinh phục hẳn Champa(tr. 97). Thư tịch cổ này còn nhấn mạnh thêm «từ chúa Nguyễn đến Tây Sơn… việc mở đất và giữ yên lãnh thổ (…) là qui luật phát triển, cũng là lí tưởng và mơ ước của mọi người dân (…) là lí tưởng thiêng liêng mà mọi người dân [Việt] phấn đấu thực hiện» (tr. 225). Chỉ cần đọc qua bài viết của Nguyễn Gia Kiểng, độc giả có thể hình dung được đâu là thái độ đế quốc của các nhà lãnh đạo ở Việt Nam: «trong lịch sử Việt Nam, mỗi khi giải quyết những sự bất đồng thường chủ trương đánh hơn cầu hòa, dù đánh là ngu xuẩn»[37]. Từ những dẫn chứng nêu trên đã hiện ra rõ bản chất các giai cấp lãnh đạo Việt Nam thời cổ rất là dã man, hiếu chiến đối với láng giềng Champa ở phía Nam. Vì rằng, chính sách xâm lược, cướp đất đai, giết hại dân tộc khác được giai cấp lãnh đạo Việt Nam xem «là qui luật phát triển, cũng là lí tưởng thiêng liêng, và mơ ước của mọi người dân [Việt] phải thực hiện». Vậy mà khi Ðại Việt tiến quân chinh phạt Chiêm Thành, nguyên do duy nhất mà các sử gia Việt Nam trong đó có tác giả Lương Ninh thường nêu ra là vì «Chiêm Thành cướp phá hoặc bỏ triều cống». Ðây là một lý luận hoàn toàn phi khoa học.
Từ những dữ kiện đã nêu ra ở phần trên, độc giả có cảm tưởng rằng các nhà sử học Việt Nam chỉ biết dựa vào chính sử của quốc gia này, hay nói một cách khác chính sử của một chính quyền đế quốc để xây dựng nội dung lịch sử của một quốc gia thua trận, gọi là Champa. Chúng tôi gọi đó là lịch sử một chiều.
Lịch sử là dữ kiện của sự thật đã trở thành di sản tinh thần của một dân tộc. Các sử gia không có lí gì để xuyên tạc nguyên do và luôn tạo dựng nên những luận điệu để biện hộ cho sự bành tướng và xâm lăng của Ðại Việt. Hôm nay, Ðại Việt và Champa là hai nhân tố chính để cấu thành lịch sử và quốc gia Việt Nam. Và trong thời đại bùng nổ thông tin khoa học như ngày nay, lại càng không thể lấy chính sử Việt Nam làm tư liệu tuyệt đối, với lối tư duy một chiều của nhà sử học Việt Nam để viết về Champa nữa.

*

Cuốn sách Lịch sử Vương quốc Champa của Lương Ninh không có gì mới, hoàn toàn copy và sử dụng lại tư liệu của các tác giả người Pháp, để rồi viết lại theo thiển ý của người Kinh nhằm xuyên tạc và làm phai nhạt đi lịch sử Champa. Học giả không có tinh thần khoa học. Khi viết sách, tác giả thường hay bộc lộ thái độ của một dân tộc đế quốc, bày tỏ tư tưởng của dân tộc lớn viết về dân tộc nhỏ. Vì vậy cuốn sách không mang một giá trị khoa học từ nội dung đến hình thức.

***

QUA NHỮNG NẺO ÐƯỜNG BÌNH THUẬN CỦA MƯỜNG GIANG

Sách Tác giả Xuất bản, Nhà Sách Tự Lực tại California-USA, Phát hành, năm 2003, 864 trang. Sách gồm 8 chương: Chương Một –Ba thế kỉ nối dài Chiêm Thành (tr. 7-52); Chương Hai –Chiêm thành thực chất và huyền thoại (tr. 101-203); Chương Ba –Từ Nguyễn Thất Thành đến trường Dục Thanh (tr. 212- 346); Chương Bốn – Bình Thuận qua 3 thế kỉ (tr. 382-449); Chương Năm –Qua những nẻo đường Bình Thuận (tr. 468-536); Chương Sáu –Phan Thiết trong tâm tư người ly xứ (tr. 552-660); Chương Bảy –Thăm lại đường xưa lối cũ Bình Thuận –Phan Thiết (tr. 687-784); Chương Tám –Bình Thuận, những tháng năm ly loạn (tr. 804-847); và phần cuối sách là Lời kết, Mục lục, Tư liệu kham khảo. Trong 8 chương trên của cuốn sách Mường Giang, chúng tôi chỉ đưa ra bình luận 2 chương (Chương Một và Chương Hai), tức là những chương có liên đến lịch sử, văn hoá và văn minh của Champa (Chiêm Thành), một lĩnh vực liên quan đến nghiên cứu của chúng tôi.
Ðây là sách có bìa in hình đẹp, trình bày trang nhã, chữ in nghiêng rõ ràng, thuận tiện cho người đọc.Văn phong của tác giả trình bày mạch lạc, cảm xúc dạt dào, tuôn chảy trong từng trang viết. Nội dung của cuốn sách toát lên tâm trạng của tác giả Mường Giang, một người yêu nước Việt Nam Cộng Hòa, yêu quê hương Bình Thuận qua những nẻo đường. Bằng kí sự, qua 864 trang viết, tác giả đã cố phác hoạ nên một bức chân dung của mãnh đất Bình Thuận: từ đền tháp Champa (Chiêm Thành) đến chùa Phật, Ðình làng của người Kinh ở đồng bằng, ven biển, đến đảo Phú Quốc xa xôi; từ con người dân Champa bản địa của xứ Bình Thuận đương đầu với cuộc Nam tiến người Kinh đến những chiến sĩ oan hồn của những đứa con đất Việt tàn sát lẫn nhau trong 30 năm nội chiến Bắc-Nam (1945-1975) v.v. Tất cả những hình ảnh, những sự kiện lịch sử đó được tác giả đưa vào cuốn sách như một sự “ôn cố tri ân”. Tuy nhiên, do cuốn sách có nội dung rộng lớn, lại được viết theo dạng kí sự của một nhà viết lách, không phải là nhà khoa học chuyên nghiệp nên cuốn sách đã phạm nhiều lỗi sai lầm về sự kiện lịch sử, tư liệu, cũng những quan điểm khi nhận định vấn đề.

Sai lầm về sự kiện lịch sử

Mở đầu chương I, viết về Chiêm Thành, tác giả Mường Giang không cần dẫn chứng, tư liệu trích dẫn từ đâu, dựa trên cơ sở tư liệu nào mà tác giả dõng dạc tuyên bố như đinh đóng cột rằng là: «Trên danh nghĩa từ năm 1693, Ðại Việt chánh thức là chủ nhân ông [sic] toàn cõi vương quốc Chiêm Thành nói chung và tại Pânduranga, tức là Thuận trấn hay tỉnh Bình Thuận ngày nay» (tr. 2). Và sự kiện này được tác giả lặp lại nhiều lần một cách quả quyết ở các tr. 16 và tr. 106. Ðây là vấn đề sai lầm về sự kiện lịch sử Champa giống như tư tưởng sai lầm của Lương Ninh mà chúng tôi đã phân tích và trình bày ở trên.

Sai lầm về lãnh thổ và thành phần dân tộc Champa

Khi nói đến vùng đất Tây Nguyên và các thành phần tộc Champa, tác giả Muờng Giang luôn phủ nhận Tây Nguyên là vùng đất thuộc Champa và các dân tộc Tây nguyên là các dân tộc bị cai trị bởi người Chăm (tr. 105, 108). Tác giả viết «Trong suốt thời gian chiến tranh giai dẳng giữa Việt-Chiêm, Phù Nam- Chân Lạp, các bộ tộc ở Cao Nguyên Trung Phần cũng bị hoạ lây từ chiến nạn của người Chàm» (tr. 105). Và «cho tới năm 1471 vua Lê Thánh Tông mới giải phóng hoàn toàn ách đô hộ của Chiêm Thành cho các bộ tộc» (tr. 106, 193 và 194). Ðây là một quan điểm sai lầm về lãnh thổ và thành phần dân tộc Champa mà chúng tôi cũng đã phê bình Lương Ninh ở phần trên.

Sai lầm về tư liệu

Cũng như Lương Ninh, khi nghiên cứu Champa tác giả Mường Giang chỉ sử dụng và tin tưởng duy nhất một nguồn thư tịch Việt Nam. Và cho rằng «…người Chiêm không có tác phẩm Lịch sử» (tr. 2,107). Nên nhớ rằng, hiện nay người Chiêm (Champa) vẫn còn lưu giữ những tác phẩm lịch sử. Những tác phẩm lịch sử Champa khác hẳn tư liệu cổ Việt Nam mà chúng tôi đã trình bày cụ thể ở bài phê bình Lương Ninh. Ở đây cũng cần nói thêm với tác giả Mường Giang rằng những văn bản chữ Chăm mà hiện nay họ còn lưu giữ một số là những bài ký lục có nội dung liên quan đến những biến cố lịch sử, chính trị của Champa mà người viết đã biết được hoặc thấy được với chính con mắt của mình (Po Dharma, 1987, tr. 183-184). Do đó những văn bản này chính là những cuốn sách sử Champa mang tính khách quan, chứa nhiều thông tin có thể cho phép cho các nhà sử học Việt Nam kiểm chứng lại và bổ túc những tài liệu lịch sử của mình. Ðó là nguồn tư liệu lịch sử quý giá còn sót lại mà hiện nay người Chăm vẫn còn lưu giữ sau những trận tàn phá, huỷ diệt làng mạc Chăm, với phương châm «đốt sách, phá sạch, giết sạch» của quân xâm lăng Ðại Việt, chứ không phải như tác giả Mường Giang viết «…người Chàm không lưu lại các tác phẩm lịch sử…». Ðến đây, độc giả rất ngạc nhiên cho Mường Giang, viết lịch sử Champa mà tác giả chỉ đọc một vài tư liệu từ phía người Việt. Thậm chí tác giả chưa đọc hết sách sử Việt, chứ đừng có nói đến đọc lịch sử Champa. Cho nên tác giả rất dễ bị sai lầm, phiến diện, một chiều khi nhận định vấn đề.

Sự ngụy biện, mâu thuẫn và khập khiễng trong văn chương đế quốc

Ngụy biện cho hành động xâm lược

Tác giả viết rằng nguyên nhân Nam Tiến của người Việt và nguyên nhân người Chăm mất nước như sau.
-Người Việt Nam Tiến là do «Người Chàm suy yếu, không kiểm soát hết vùng biển và hải đảo xa xôi » (tr. 10)
-«Ngoài ra cái thời mà người Chàm cứ bỏ đất hoang, để dân Việt tới khai phá gầy dựng, rồi họ trở lại tấn công đoạt lại hay để kiếm lương thực và chiến lợi phẩm, cũng đã cáo chung» (tr. 114).
-«Nhìn chung đất đai lãnh thổ Chiêm Thành từ Quảng Bình chạy vào tới Bình Tuy (…) nhưng “rất tiếc” phần lớn vùng đất này bị bỏ hoang». Ðoạn văn như thế này được lặp lại nhiều lần có chủ ý ở các tr. 123, 124 để tác giả muốn nói một ý là: Ðất đai Champa còn bỏ hoang thì người Việt cứ việc vào chiếm để ở. (Lưu ý từ “rất tiếc” của tác giả Mường Giang trong câu văn trên giống như «kẻ cướp tiếc của người giàu»).
-«Ðại Việt là nạn nhân nhiều lần vì bản chất hiếu chiến của người Chàm» (tr. 113).
-Chiêm thành mất nước là do nội bộ mâu thuẫn, nhân dân bị sưu cao, thuế nặng, phục dịch, xây dựng đền đài (tr. 112, 113 và 114).
-«Tóm lại Chiêm thành mất nước là do họ tự đạo diễn. Cuộc Nam tiến của Ðại Việt chẳng qua cũng chỉ là một ngẫu cảm trùng hợp» (tr. 115-116)

Trong tất cả những nguyên do mà tác giả nêu trên để lí giải về cuộc Nam Tiến của người Việt và nguyên nhân mất nước của người Chăm thì độc giả thấy không có một nguyên nhân nào do phía người Việt gây nên.Tất cả đổ lỗi cho Champa. Ở đây không cần phân tích, chứng minh độc giả cũng dễ dàng nhận thấy rằng đây là kiểu lí luận một chiều mang tính thù địch nhằm nguỵ biện một cách thô thiển cho hành động xâm lược của người Việt.

Ngụy biện cho hành vi dã man của triều đình Việt Nam

Ðể ngụy biện cho hành động dã man tàn sát người Chăm của triều đình Việt Nam, ở trang 114 tác giả Mường Giang nói rằng«Qua dòng lịch sử nước nhà [Việt Nam], hoặc chính do người Việt ghi chép lại, hay từ các sử gia ngoại quốc, hoàn toàn không thấy nói đến sự tàn ác dã man của quân Việt đối với tù binh hay dân chiến nạn như người Chàm». Ðây là văn chương lừa bịp độc giả bình dân cho hành vi dã man của người Việt. Vì rằng, chính sử Việt Nam còn ghi lại rành rành tội ác này.
-«Mùa hạ, tháng 4, nguyên soái (Nguyễn) Lí Thường Kiệt bắt được Ðệ Cũ ở biên giới Chân Lạp. Mùa Hạ, tháng 5,vua đãi yến quần thần tại điện vua Chiêm Thành (…). Vua sai kiểm kê tất cả các nhà trong và ngoài thành, cả thảy hơn 2.560 khu, đều sai giết và đốt hết».[38]
-«Ðại Hành Hoàng Ðế. Kỷ Sửu Năm Hưng Thống thứ 1 (989) …Vua đem quân đến đánh Châu Hoan, Châu Ái, đuổi bắt được Tiến Lộc, giết người [Chiêm] hai châu không biết bao nhiêu mà kể».[39]
-Năm 1040-1044, cuộc chiến Champa-Ðại Việt diễn ra đẫm máu, 30 ngàn người Champa bị chặt đầu, vợ vua Champa nhảy xuống biển tự vận bởi sự hoang dâm của vua Việt, một số binh lính Champa đem ra bắc làm tù binh.[40]
-Năm Tân Mão, năm thứ 2 (1471). Ðại Việt tiến đánh Champa, thành Vijaya (Bình Ðịnh) bị thất thủ, vua Champa Trà Toàn bị bắt. Ðại Việt ra lệnh chém đầu vua và 60 ngàn người Champa vô tội. Ðây là hành động giết người dã man nhất chưa từng xảy ra trong Lịch sử Ðông Nam Á đã được chính sử Việt Nam ghi chép và đã được trích lại trong nhiều cuốn sách nước ngoài viết về Champa.[41]
Tội ác man rợ của triều đình Việt Nam đối với người Champa không chỉ diễn ra ở thời trung cổ mà còn kéo dài đến thời hiện đại. Ðại Nam Thực Lục Chánh Biên viết vào năm 1834, vua Minh Mệnh ra lệnh tử hình tất cả những chiến sĩ người Champa nổi loạn chống triều đình Huế, chặt tay họ ra thành từng khúc và lấy ruột gan của họ treo trên cành cây để cho dân tộc Champa phải khiếp sợ [42]. Ðó là những bằng chứng, là những trang tư liệu đầy rẫy tội ác man rợ của vua chúa Việt Nam và thấm đẫm đầy máu và nước mắt đối với dân tộc Champa mà tác giả Mường Giang nên tìm đọc.

Lập luận mâu thuẫn khi nhận diện về văn hoá

Vì có tư tưởng dân tộc lớn, luôn xem mình là văn minh, tinh khiết, chính thống, không chấp nhận bị lai căng văn hoá, mang dòng máu Chăm, tác giả Mường Giang đã phê phán nhiều học giả đã viết về sự ảnh hưởng văn hoá Chàm -Việt. Tác giả cho rằng «nhiều người viết vội vàng kết luận, dân Việt bị người Chiêm đồng hoá ngược trên lãnh vực văn hoá và tôn giáo, qua hình thức hát xướng, bùa ngải và tập tục thờ Cá Ông» (tr. 2).
Nêu vấn đề để phủ nhận quan điểm của người khác như trên, nhưng tác giả không tìm được những cứ liệu để bảo vệ quan điểm của mình. Qua một hồi nói vòng vo ngụy biện vì tinh thần tự ái dân tộc lớn, tác giả không cách nào chối cãi được sự thật như là một tất yếu lịch sử, để rồi đến trang 12-13, tác giả đột ngột viết«Nhưng lịch sử vẫn còn nhiều bất ngờ không giải thích được, giống như ở Trung Hoa, chính những kẻ chiến thắng Khiết Ðan, Hung Nô, Mông Cổ (…) lại bị người Hán đồng hoá ngược lại trên đất mình. Lịch sử đã cũng đã xảy ra ở Việt Nam, trong việc vua chuá thời Lí, Trần thờ cúng vị nữ thần Chiêm Thành là Thiên Y(…). Ngày nay vẫn còn nhiều di tích Chăm (…) như bến Lâm Ấp ở Hồ Tây, đồng Lâm Ấp ở Xuân Ðình, Hà Nội (…) hay chùa Bà Ðanh tại Thăng Long (…). Từ nữ thần Thiên Y Ana (…) tới các thần linh (…) Nam Hải Ðại Tướng Quân (Cá Ông) (…) của người Chăm được người Việt thờ phụng» (tr. 12, 13).
Và cuối cùng tác giả tự chấp nhận sự đồng hoá của người Chàm.«Lưu dân Ðàng Ngoài vào khai hoang và lập nghiệp tại Bình Thuận, ở trên bờ hay nơi hải đảo, tận trong huyết quản của họ đã có ảnh hưởng từ những thần linh cổ nơi bản địa, cho nên sự tiếp thu nhanh chóng các thần linh mới nhưng mà cũ, nơi đất Chàm là một sự tự nhiên khó tránh khỏi» (tr.13) .
Ở đây cũng cần nhấn mạnh rằng người Việt bị ảnh hưởng người Chăm không chỉ trên lĩnh vực tín ngưỡng như tác giả nêu mà còn diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác trong cuộc sống như: kĩ thuật đóng ghe thuyền (ghe bầu), làm nước mắm; kĩ thuật làm ruộng nước, đê điều, giống lúa Chiêm mùa; âm nhạc cung đình thời Lí-Trần, thời Nguyễn có hò Huế, nhạc ngũ cung v.v. Ngược lại người Chăm chỉ tiếp thu văn hoá Việt trong thời gian sau này do áp lực đồng hoá từ thời Minh Mệnh thứ 17 (1837). Vua Minh Mạng xuống chiếu bắt người Chăm phải thay đổi họ tên theo kiểu Việt (họ Châu, Quảng, Ðắc, Sử, Lưu)[43]; mặc áo dài khăn đóng người Việt; làm lễ tang, lễ hội Chăm phải mang cờ âm dương, ngũ hành, bát quái của người Việt vay mượn từ Trung Hoa[44]; và một số kiến trúc đình làng Chăm sau nay cũng ảnh hưởng kiến trúc đình làng Việt[45] v.v.

Lí luận độc quyền

Theo tác giả Chiêm Thành mất nước là do “luật nhân quả” của nhà Phật. Tác giả viết «Nói theo kinh Phật, thì tất cả đều là nhân quả, thiện ác nhãn tiền, người Chàm lúc nào cũng nuôi hận thù trong tâm (…) tấn công hết nước này đến nước khác và ngược lại họ cũng phải bị nạn nhân trả thù (…)» (tr. 113). Nhưng khi đến Lê Khắc Quyến, Sư Thích Nhất Hạnh sử dụng “luật nhân quả” của nhà Phật để nhận định về chiến tranh 30 năm Nam-Bắc Việt Nam là do «dân tộc Việt giết hại quá nhiều người Chàm, vì Nam Tiến mà VN [Việt Nam] phải chịu nghiệp chướng luân hồi trong suốt thế kỉ XX» thì tác giả Mường Giang lại chữi Lê Khắc Quyến là tên phản tặc và Sư Nhất Hạnh là gã ác tăng bán Kinh nhà Phật (tr. 188, 189).
Vấn đề này cho thấy rằng, tác giả Mường Giang không có tư duy lí luận logic, nhất quán. Tác giả muốn độc quyền về trí thức, để tự mình muốn nói gì thì nói, còn người khác thì không quyền được nói. Chỉ có tác giả mới được sử dụng “luật nhân quả”để phán xét, còn người khác thì không nên. Ðây không phải là một kiểu lí luận khoa học của một nhà nghiên cứu mà là văn chương của người viết lách muốn chữi ai thì cứ chữi.

Một vấn đề lí luận độc quyền vô lí nữa trong cuốn sách của Mường Giang mà độc giả dễ nhận thấy tác giả tự cho mình là một người rất yêu nước Việt Nam Cộng Hoà và căm thù giặc Cộng Sản nhưng tác giả lại cấm người Chăm không được quyền yêu nước Champa và căm thù quân xâm lược người Việt.
Ở đây cần nhấn mạnh rằng, tác giả Mừơng Giang rất yêu nước, đặc biệt là yêu nước Việt Nam Cộng Hoà. Tác giả nối tiếc căm hận «trước nổi tan nhà nhục nước và ách nô lệ của Cộng Sản…»(tr. 189). Thật ra nước Việt Nam có mất đâu, vẫn còn đó một giang sơn do người Việt làm chủ mặc dù họ là Cộng Sản, cớ chi mà tác giả lại khóc, nối tiếc cho đất nước Việt Nam. Tác giả viết: «…chẳng còn giọt nước mắt muộn màng, để khóc…» (tr. 346, 378). Vấn chi nước Việt Nam bị người Tàu, người Mỹ, hoặc người Chăm xâm chiếm thì tác giả liệu làm sao?
Nhưng đối với người Chăm, một giang sơn rộng lớn bị biến mất, một dân tộc đã bị nạn diệt chủng kinh hoàng hoàng chưa từng thấy trong Lịch sử Ðông Nam Á và hiện nay đang chịu sức ép đồng hoá mãnh liệt của người Việt từ nhiều phía. Vậy thì làm sao mà người Chăm có thể quên được đất nước, tổ quốc của họ. Nhân danh là con người, họ cũng có quyền sống, quyền đau đơn, tuổi hờn, và căm thù giặc như tác giả Mường Giang và những dân tộc vong thân khác trên thế giới. Cớ sao tác giả lại phê phán Chế Linh hát bài Hận Ðồ Bàn; phê phán một số thiểu số Chăm còn mang hận thù người Việt (tr. 115) và phê phán Ðắc Văn Kiết «lên án người Việt là dã man, cướp nước»(tr. 189). Lí luận kiểu tác giả Mường Giang đã cho độc giả hiểu rằng, chỉ có người Kinh mới biết yêu nước, căm thù giặc, còn các dân tộc khác thì không biết yêu nước, chỉ biết làm nô lệ.

Hiện tượng Chế Linh và Ðắc Văn Kiết.

Có dịp nghe ca sĩ Chế Linh gốc Chăm hát bài Hận Ðồ Bàn tác giả Mường Giang đưa ra kết luận rằng «từ đó mới thấy đến bây giờ, mà sự hận thù giữa hai dân tộc Chiêm-Việt, vẫn còn ấm ức nơi hồn của một thiểu số, vì chính những người này không biết tại sao mình phải suy tàn. Tóm lại Chiêm Thành mất nước là họ họ tự đạo diễn» (tr. 115).
Lời kết luận của tác giả Mường Giang về ca sĩ Chế Linh sẽ cho độc giả thấy rằng, tác giả Mường Giang có tư tưởng hận thù dân tộc không hơn không kém. Cho rằng, ca sĩ Chế Linh hát bài Hận Ðồ Bàn chỉ kêu gợi sự hận thù dân tộc là một lí luận khôi hài. Ðúng ra Mường Giang phải nói rằng người đứng ra kêu gọi sự hận thù Chiêm-Việt phải là nhạc sĩ Xuân Tiên gốc Việt. Vì nhạc sĩ Xuân Tiên là người sáng tác ra bài Hận Ðồ Bàn còn Chế Linh chỉ hát lại bài Hận Ðồ Bàn của nhạc sĩ Xuân Tiên mà không thêm bớt một lời nào. Ðúng ra tác giả Mường Giang phải kết tội nhạc sĩ Xuân Tiên, vì nhạc sĩ Xuân Tiên là thủ phạm chính (người sáng tác) kêu gọi hận thù dân tộc nhưng tác giả lại đơn phương kết tội Chế Linh. Ðến đây độc giả đã thấy rõ cùng một việc làm, cùng một hành động diễn ra có hai người tham gia, nhưng một người Chăm như Chế Linh là có tội, còn nhạc sĩ Xuân Tiên, người Việt nên luôn luôn vô tội. Thế thì sự tự do, bình đẳng, bác ái của người Việt ở đâu? Hiện tượng này không chỉ gặp ở tư duy kì thị dân tộc của Mường Giang mà còn xảy ra hàng ngày trên đất nước Việt Nam ngày nay về tội phân biệt, đối xử không bình đẳng của người Việt (Kinh) đối với các dân tộc thiểu số.

Từ nội dung của bài hát Hận Ðồ Bàn tác giả Mường Giang tự gán cho dân tộc Champa là «không biết tại sao mà mình phải suy tàn» (tr. 115). Vì luôn mang tư tưởng tự cao, tự đại là Ðại Việt văn minh cho nên Mường Giang cứ nghĩ là dân tộc Chăm là man di mọi rợ «không biết tại sao mình phải suy tàn» mà Mường Giang đã quên đi một điều quan trọng đó là mỗi người Chăm, họ có ý thức rất cao về văn hoá và lịch sử của họ.Từ khi sinh ra khỏi lòng mẹ đến trưởng thành, họ đã từng nghe những câu hát ru, những bài cúng tế, những bài thánh ca hát về lịch sử, về những vị anh hùng của họ trong mỗi dịp lễ hội hàng năm, cho nên ít nhiều họ đã biết nguyên nhân «tại sao mình phải suy tàn». Và những người này luôn ý thức rất rõ rằng vuơng quốc Champa suy tàn là do sự xâm lăng của Ðại Việt. Ðối với người Chăm, dải đất miền trung từ Ðèo Ngang cho đến Bình Thuận ngày nay là “lãnh thổ vĩnh hằng” trong thế giới tâm linh của họ và chỉ là “lãnh thổ tạm thời” của Việt Nam. Không biết tại sao tác giả Mường Giang đã viết về lễ hội Champa trong sách rồi (tr. 175-190) mà lại không biết vấn đề này (?). Ðúng là tác giả Mường Giang chỉ “cưỡi ngựa xem hoa” nhưng lại vội vàng kết luận là người Chăm «không biết nguyên nhân tại sao mà họ suy tàn». Có chăng Mường Giang mới là người duy nhất không biết tại sao người Chăm suy tàn.
Nhân vật thứ hai mà Mường Giang đưa ra làm nhân chứng để phân tích nhằm kết án cho người Chăm là có bản chất hận thù, đó là Java Pak Krong, tức là Ðắc Văn Kiết, một chiến hữu đã từng một thời cùng Mường Giang đứng chung một chiến hào để chống Cộng Sản, nay là sáng lập viên tập san Vijaya-Champa tại Hoa Kỳ. Theo tác giả Mường Giang, nếu người Chăm còn ngộ nhận về nguyên nhân tại sao Champa bị tiêu diệt, «chẳng qua cũng vì cảm xúc nhất thời qua sự mất mát, để rồi biến thành thù hận» như Java Pak Krong (Ðắc Văn Kiết) đã viết trong cuốn đặc san Xuân Bình Thuận, Canh Thìn 2000 với chủ đề «Vài nét sơ lược về vương quốc Chiêm Thành».
Ðọc lại bài «Vài nét sơ lược về vương quốc Chiêm Thành» (tr. 118-138) của Java Pak Krong (Ðắc Văn Kiết) như đã nêu trên không thấy có đoạn nào, hàng nào, nội dung nào như tác giả Mường Giang chỉ ra là Java Pak Krong (Ðắc Văn Kiết) «một người Chăm Bình Thuận, phỉ báng và chà đạp cả dân tộc VN [Việt Nam] là cướp nước» (tr. 189). Có chăng Java Pak Krong (Ðắc Văn Kiết) chỉ tóm tắt sơ lược lịch sử Champa một cách trung thực trong suốt 8 thế kỉ chiến tranh tương tàn giữa Chiêm Thành và Ðại Việt. Cuối bài, tác giả Java Pak Krong (Ðắc Văn Kiết) viết như một lời van xin dân tộc Việt là làm sao để «niềm tin tôn giáo, phong tục tập quán, ngôn ngữ, chữ viết Champa (…) vẫn được trân quý, gìn giữ và tồn tại trong (…) tính văn hoá và đa dạng của Việt Nam» (tr. 136). Và cuối cùng tác giả Java Pak Krong (Ðắc Văn Kiết) kêu gọi anh em Chiêm Việt «đừng biến xúc cảm thành sầu hận và sầu hận chỉ là buồn thảm không cần thiết cho cuộc sống một khiếp người» (tr. 136). Lời kết luận của bài viết Java Pak Krong (Ðắc Văn Kiết) mang đậm tính nhân văn, thắm tình đoàn kết, hữu nghị Chiêm-Việt đáng trân trọng. Thế thì, đâu là minh chứng cụ thể mà Mường Giang đưa ra để nói rằng Java Pak Krong (Ðắc Văn Kiết) «một người Chăm Bình Thuận, phỉ báng và chà đạp cả dân tộc VN [Việt Nam] là cướp nước» (tr. 189). Ðây là sự bịa đặt, chụp mũ trắng trợn, mang hiềm thù cá nhân, dân tộc một cách vô cớ của tác giả Mường Giang.

Qua hiện tượng Chế Linh và Ðắc Văn Kiết, độc giả thế giới hiểu rằng một dân tộc vong quốc như người Chăm mặc dù chưa làm gì tổn hại đến dân tộc Việt nhưng đã bị quy chụp, kết án một cách vô cớ. Chế Linh chỉ biết vô tư ca hát và Java Pak Krong (Ðắc Văn Kiết), một nhà viết lách chỉ viết lại trung thực lịch sử của dân tộc mình nhưng cũng bị kết tội là kẻ phản bội, phỉ báng và chà đạp dân tộc Việt [46]. Ðiều này đã đưa độc giả đến kết luận rằng, tác giả Mường Giang là con đẻ của đế quốc Ðại Việt, luôn muốn áp đặt quyền lực của mình lên dân tộc thiểu số khác,ï không chấp nhận bất cứ ai nhắc đến lịch sử và số phận của Champa (kể cả chính bản thân người Chăm) mà chỉ có tác giả Mường Giang và dân tộc Việt mới có quyền đưa ra quan điểm lịch sử và quyết định định mệnh của dân tộc Champa.

*
Cuốn sách Những Nẻo Ðường Bình Thuận của tác giả Mường Giang chứa đựng một số tư liệu hỗn đốn từ lịch sử, văn hoá, phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng, đền tháp, chùa, chiền và lễ hội của người Chăm ở Bình Thuận.v.v. Rất tiếc những tư liệu nêu trên mà tác giả đưa ra là không có giá trị khoa học. Vì tư liệu trong sách của tác giả không rõ nguồn gốc, không trích dẫn nguồn tư liệu khi dẫn chứng. Viết một cuốn sách dài 864 trang với nhiều dữ kiện lịch sử (1693-1975), nhưng tác giả chỉ sử dụng 18 cuốn sách kham khảo chính, chứ không phải là sách trích dẫn (xem tr. 864).Vì vậy khi đọc, độc giả thấy rõ là tác giả không đủ khả năng để giải quyết những vấn đề rộng lớn mà tác giả tự đặt ra trong cuốn sách. Tác giả bịa đặt tư liệu, suy nghĩ theo cảm tính chủ quan nhiều hơn là khách quan khoa học. Lí luận khập khiễng, mâu thuẫn, phán xét bừa bãi và nói dối … là khuyết điểm nổi trội trong cuốn sách của tác giả Mường Giang, cũng như trong một số cuốn sách của người Việt viết về Champa. Ðây cũng là chứng bệnh nan y trong rừng sách của một số nhà nghiên cứu Việt Nam. Vì vậy, quan niệm của tác giả lí giải về Champa (Chiêm Thành) ở trong sách là quan điểm chủ quan của nhà viết lách mang tư tưởng dân tộc đế quốc hơn là quan điểm của nhà khoa học chân chính.

Mặc dù cuốn sách của tác giả là kí sự lịch sử, hay là một tiểu thuyết thương mại (có quyền sáng tác) đi chăng nữa, thì tác giả cũng phải tôn trọng sự kiện lịch sử (lịch sử phải là sự thật), chứ không nên lợi dụng vương quốc Champa suy tàn, lợi dụng ngòi bút kí sự, văn chương tiểu thuyết rẻ tiền mà tự bỏ tiền túi ra in sách (sách tác giả tự xuất bản) để xuyên tạc lịch sử, văn hoá và con người Champa./.

M . S. BERTRAND
(Chương trình thế giới Mã Lai-Ðông Dương)
[1] Những bài viết này đã đăng trong Harak Champaka số 3, ra ngày 30/6/2005 và Harak Champaka số 6, ra ngày 30/8/2005.
[2] Lương Ninh, Lịch Sử Vương Quốc Champa, Nhà xuất bản Ðại học Quốc gia, Hà Nội, 2004, 354 trang. Nguyễn Gia Kiển , Tổ quốc Ân Năn, Sách in lần thứ 2 tại Pari, 2004 (với bổ túc và sửa chữa), 615 trang và Mường Giang, Qua Những Nẻo Ðường Bình Thuận, Tác giả xuất bản, Nhà Sách Tự Lực tại California-USA, phát hành, 2003, 864 trang.
Xem Lương Ninh (chủ biên), Lịch sử Việt Nam Giản yếu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, 658 trang; Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Lịch sử Việt Nam, tập I, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2001, 487 trang.
[4] Trần Quốc Vượng, Văn Hoá Việt Nam, Nhà xuất bản Ðại học Quốc gia, Hà Nội, 1995, 345 trang; Trần Ngọc Thêm , Tìm về Bản sắc Văn hoá Việt Nam, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1997, 615 trang.
[5] Trần Quốc Vượng, Lương Ninh và Trần Ngọc Thêm, sách đã dẫn.
[6] G. Maspero, Le Royaume de Champa, Paris (Van Oest), 1928.
Ðây là số tác giả viết về lịch sử Champa: G. Coedes, Les Etats hindouisés d’Indochine et d’Indonésie, de Boccard, Paris, 1964; A.,Bergaigne, «L’ancien royaume de Campa, dans l’Indochine, d’aprés les inscriptions», in Journal Asiatique XI, 1888, tr. 5-105; R. C., Majumdar, Ancient Indian Colonies in the Far East. I . Champa. La hore (Greater India Society Public. 1. Punjab Oriental Series XVI) 1927; Po Dharma, Le Panduranga (Campa) 1802-1835, Ses rapports avec le Vietnam, Public. EFEO CXLIX, Paris, 2 Tomes, 1987.
[7] Po Dharma, 1987.
[8] Po Dharma, «Etat des derniêres recherches sur la date de l’absorption du Campa par les Vietnamiens››, in Actes du sùeminaire sur le Campa organisme l’Universitùe de Copenhague le 23 mai 1987, Travaux du CHCPI, Paris, 1988, tr. 59-67; Po Dharma, «Le dùeline du Campa entre le XVIe et le XIXe siécle», in Le Campa et Le Monde Malais, CHCPI, Paris ,1991, tr. 47-61; Po Dharma, «The History of Champa», in Cham Art, River Books Ltd, Bangkok, 2001, tr.14-27; Po Dharma, «Sơ lược về lịch sử Champa», in Champaka, Số 1-1999, IOC- Campa ấn hành tại San Jose, California, USA, tr.33-37.
[9] Ðại Nam nhất thống chí, Ðại Nam thực lục tiền biên, v.v.
[10] Po Dharma, 1987, tập 1, tr. 222-223. Xem thêm P-B. Lafont, ‹‹Pour une réhabilitation des chroniques rédigùees en cam moderne››, in BEFEO LXVIII, 1980, tr. 105-111.
[11] G. Maspero, 1928, tr.239; Lê Thành Khôi, 1955, tr.265; và J. Boisselier, 1963, tr. 1963
[12] Po Dharma, 1987, tập 1, tr. 183-184.

[13] Po Dharma, 1987, tập 1, tr . 183-184.
[14] Dohamide và Dorohiem, 2004, tr. 262-263.
[15] L, Pinot «Notes épigrpahiques in Etude épigraphiques sur le pays Cham », BEFEO, Paris, 1955, tr. 7 và 16.
[16] L. Finot, «Notes d’épigraphie. V . Panduranga», in BEFEO III, 1903, tr. 630 654; E. M. Durand, «Notes sur les Chams. III. La Chronique Royale», in BEFEO V, 1905, tr. 377-382.
[17] G. Maspero (1928); G. Coedes (1964); P. B. Lafont (1980); Po Dharma (1987). Xem thêm, P. Pelliot, ‹‹Textes chinois sur le Panduranga››, in BEFEO III, 1903, tr. 649 654.
[18] Cụm từ dùng trong tác phẩm Dohamide và Dorohiem, Bangsa Champa, tìm về với một cuội nguồn cách xa, Seacaef-Viet Foundtion, California, Hoa Kỳ, 2004, tr. 263.
[19] Lafont, 1980, Po Dharma, 1987.
[20] Dựa trên tư liệu cổ Trung Hoa, P. Pelliot (1903) chứng minh rằng Panduranga vào thời kỳ đó dường như đã được hưởng một chế độ tự trị trong lòng vương quốc Champa. Những tư liệu trên cũng giới thiệu xứ sở này vào cuối thế kỷ X, như là «một vương quốc thuộc Champa» nhưng lại triều cống cả hai triều đình Trung Hoa và Champa những sản vật của địa phương mình.
[21]Po Dharma, 1987; B, Gay, ‹‹Vue nouvelle sur la composition ethnique du Campa››, in Actes du Séminaire sur le Campa organisùe l’Universitùe de Copenhague le 23 mai 1987, CHCPI, Paris, 1988, tr. 49-58.
[22] Nicolas Weber, ‹‹Sự khởi nghĩa của Tuen Phaow 1796-1797››, in Champaka 4, 2004, tr. 81-100; Po Dharma, ‹‹Từ phong trào Katip Sumat 1833-1834 đến mặt trận Ja Thak Wa 1834-1835, in Champaka 4, 2004, tr. 37-80.
[23] Triều đại (Dynastry) của Po Romé gồm 12 đời vua: khởi đầu từ vua Po Romé đến vua Cei Brei kết thúc (1627-1796); Vương triều (Reign) của vua Po Romé kéo dài 24 năm (1627-1651).
[24] Po Dharma, 1987, tập 1, tr.181-182; B. Gay, 1988.
[25] G. Coedes et H. Parmentier, Listes générals des inscriptions et des monuments du Champa et du Cambodge, Hanoi, Public. EFEO, 1923.
[26] Như bi Hòn Ðỏ, bi Trụ Chùa Mỹ Hải, bia Vách Ðá Chùa Linh Sơn (Tháp Chàm), bi Po Gha, bi Phước Thiện, v.v. Số bi mới phát hiện vẫn đang còn bảo tồn ở một số di tích và một số đang lưu giữ tại Bảo Tàng Ninh Thuận. Bên cạnh đó ở Ninh Thuận còn phát hiện nhiều di tích, di vật khác thuộc văn hoá Champa mà các nhà nghiên cứu đã đang tải thông tin trên các tạp chí chuyên ngành ở Việt Nam. Xem Sakaya, «Những di tích, di vật khoả cổ học ở tỉnh Ninh Thuận», Tạp chí Xưa & Nay, Số 128 (176), XI-2002, tr 38-42.
[27] Theo tác giả Lương Ninh vào 1989, người Chăm Ninh Thuận có khoảng 45.971 người; Bình Thuận: 21.000; Ðồng Nai:1.000; Tây Ninh: 2.000; An Giang: 15.000; Thành phố Hồ Chính Minh: 4.000.
Nếu dựa vào số liệu thống kê dân số năm 1989 của tác giả Lương Ninh đưa ra thì tổng số dân người Chăm ở Việt Nam là 80.000 người. Trong khi đó theo số liệu tổng điều tra dân số của Việt Nam vào ngày 1/1/1999 thì dân số của người Chăm ở Việt Nam là133.000 người. Cụ thể, người Chăm sinh sống ở 9 tỉnh trên 64 tỉnh thành Việt Nam. Tỉnh An Giang: 13.000 (huyện An Phú, Tân Châu, Châu Thành); Bình Ðịnh: 4.800 người (tập trung ở huyện Vân Canh, Bình Phước, Phước Long, Thuận Phú, huyện Ðồng Phú); Bình Thuận: 31.599; Ðồng Nai: 2.628 (xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc; xã Bình Sơn); Thành phố Hồ Chí Minh: 5.173 (cầu Thị Nghề, cầu Chữ Y, cầu Trương Minh Giảng, cầu Bình Tiên, cầu Công Lí, chợ Phú Nhuận, chợ Nacy, chợ Rạch Oâng.); Ninh Thuận: 60.340 người (Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh Sơn, Phan Rang); Phú Yên (Chăm Hroi): 17.835 (Huyện Sơn Hòa và Ðồng Xuân); Tây Ninh: 2.900 người (huyện Tân Biên, Tân Châu). Xem Ngày Hội Văn Hoá Chăm Tại Hà Nội , Bộ Văn hoá Thông tin, Trung tâm triển lãm Văn hoá Nghệ thuật, Hà Nội, 2003.
[28] Văn Món (Sakaya), «Thực Trạng tôn giáo, tín ngưỡng của người Chăm», Tạp chí Tôn giáo, Số 4/2000, tr. 49-54.
[29] P. Y. Manguin, «The Introduction of Islam into Campa», EFEO, tome LXVI, 1979, tr. 7-13 (translated English by Robert Nicholl).
[30] R. C. Majumdar, 1927.
[31] Xem G. Maspero, 1928, tr. IX; Po Dharma, ‹‹Sơ lược lịch sử Champa››, in Champaka, No 1-1999, tr. 20.
[32] Xem Ngô Ðức Thịnh (chủ biên), Ðạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người thiểu số ở Việt Nam và Châu Á, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.
[33] Nón lá là vật quý được Champa dùng làm quà triều cống cho nhà Nguyễn, được ghi chép lại trong Phủ Biên Tạp Lục. Trích từ Danny Wong Tze-Ken ‹‹Mối quan hệ giữa chúa Nguyễn và vương quốc Champa. Bước nghiên cứu sơ khởi››, in Champaka 1, 1999, tr. 59-75. Trước đó người Việt (Kinh) chỉ có áo dài tứ thân, nón quai thao; còn áo dài Huế và nón lá người Việt (Kinh) dùng phổ biến ngày nay là ảnh hưởng từ áo dài và nón lá Chăm.
[34] Ghe trong cụm từ ‹‹ghe thuyền›› phát xuất từ tiếng Chăm: gaiy. Bầu trong ‹‹ghe bầu›› phát xuất từ tiếng Mã Lai “Perahu “ và Chăm là “ ahaok”.
[35] Quốc triều chánh biên, Saigon, 1971.
[36] Danny Wong Tze-Ken, 1999.
[37] Nguyễn Gia Kiển, 2004, tr. 37.

[38] Việt Sử Lược, Quyển II, 19-20b, tr.122-123 (tư liệu này dẫn theo Nguyễn Lệ Thi, Thư tịch cổ Việt Nam, UBKH Xã hội Việt Nam -Ban Ðông Nam Á xuất bản, Hà Nội -1977, tr.2).
[39] Ngô Sĩ Liên, Ðại Việt sử kí toàn thư, Quyển 1, tr.173.
[40] Xem Aymonier, Người Chăm và Các tôn giáo của họ, Ernest Leroux, Eùditeur, 28, Rue Bonaparte, 28, Pari, 1891, tr. 12.
[41] G. Maspero, 1928, tr. 238; D. G. E. Hall, 1981, tr. 210; J. C. Sharma, Temple of Cham in Việtnam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992, tr.35.
[42] Ðại Nam Thực Lục Tiền Biên, Viện Sử học, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1962-1966, Quyển 16, tr. 102.
[43] Nguyễn Khắc Ngữ, Mẫu Hệ Chàm, Nhà xuất bản Trình bày, Sài Gòn, 1967, tr. 125.
[44]«Văn hoá Việt Nam là sự bắt chước văn hoá Trung Quốc nhưng chưa xong» (Nguyễn Gia Kiển, 2004, tr. 15) nhưng Minh Mệnh lại đem văn hoá Việt truyền bá cho người Chăm . Thật là khôi hài !
[45] Xem Harak Champaka 3, ra ngày 30/6/2005, tr. 13-14.
[46] Năm 2000, Ðĩa CDcua Chế Linh: Traditional Music and Songs of Champa (Dân ca và dân nhạc truyền thống Champa) cũng bị chính quyền Việt Nam cấm đoán.

 

 

.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *