Ý NGHĨA LỄ HÔỊ KATÊ TRONG VĂN HÓA VÀ LỊCH SỬ CHAMPA

By Kiều Ngọc Quyên

Hàng năm, dân tộc Champa khắp mọi nơi từ hải ngoại cho đến nội địa Việt Nam rất phấn khởi mỗi lần đón mừng Lễ hội Katê.

Càng thêm sung sướng và vui mừng hơn tại quê nhà, khi Lễ Hội Katê được chính quyền từ Trung ương đến Ðịa phương hợp tác với đồng bào Chăm tổ chức Lễ Hội một cách long trọng và trang nghiêm vào năm 2000 tại tháp Poklong Garai, tỉnh Ninh Thuận – Việt Nam vừa qua.

Tuy nhiên, để xác định ý nghĩa đích thực của Lễ Hội Katê khỏi bị hiểu lầm đối với quần chúng nói chung và chính quyền VN nói riêng, tôi xin trình bày một vài quan điểm sau đây:

Vương Quốc Champa đã có một nền văn hóa truyền thống riêng bao gồm nhiều lễ nghi, phong tục và tập quán. Ðến thế kỷ IV, nền văn minh AÁn Ðộ du nhập vào và mãi đến thế kỷ XII thì du nhập thêm nền văn minh Hồi giáo. Nhưng sau thế kỷ thứ 15, Pô Rômê (1627-1651) nhận thấy có nhiều sự phức tạp trong sinh hoạt xã hội, văn hóa và ngay cả các tôn giáo, nên Pô Rômê mới cải biến nền văn minh AÁn Ðộ giáo và Hồi giáo vào văn hóa địa phương, thành một nền văn hóa Champa riêng của mình là nền văn hóa Panduranga – Champa. Như vậy 2 tôn giáo chính thống du nhập vào trước đây không còn nguyên đặc thù của họ. Và người Chăm có hai tôn giáo chính là Bàlamôn và Bàni (hay Hồi giáo Bà Ni). Hai tôn giáo lớn của người Chăm ngày nay sinh hoạt hài hòa và hỗ tương với nhau trong hành sử tín ngưỡng. Nói cách khác, chức sắc Bà Ni giáo cuõng có nhiệm vụ làm lễ cho các tín đồ Bàlamôn giáo khi họ thực hiện lễ nghi của Bàni giáo, ngược lại chức sắc Bàlamôn giáo cuõng hành sử cho tín đồ Bàni giáo khi họ thực hiện lễ nghi của Bàlamôn giáo. Ngoài ra còn một số nơi như Châu Ðốc, Châu Giang, Tây Ninh và tại Ninh Thuận, vẫn còn giữ Hồi giáo chính thống (tức là Islam), nhưng Hồi giáo Islam chính thống có số tín đồ ít hơn rong cộng đồng Chăm so với 2 tôn giáo lớn là Bàlamôn và Bàni.

Cuõng nên nhấn mạnh rằng trước khi nền văn minh Hồi giáo du nhập vào, Vương Quốc Champa đã có Lễ Hội Katê và hầu như những vị Vua Champa không có một vị vua nào theo Hồi giáo Islam nên lễ hội Katê được tổ chức long trọng và trang nghiêm từ Cung đình cho khắp đến các triều thần cho đến người dân Chăm chúc tụng, ghi ơn các vị tiền bối, các vị anh hùng đang phục vụ cho dân tộc Chăm và nghiêng mình ghi công những bậc tiền nhân, anh hùng và liệt sĩ vì tổ quốc và dân tộc đã hy sinh. Vậy Lễ hội Katê là lễ hội dân gian của đại dân tộc Chăm, không riêng gì của cộng đồng Chăm Bàlamôn, mà còn là của cộng đồng Chăm theo đạo Bàni, hay các tôn giáo khác. Ngoài ra Mùa Ramưwan của Bàni giáo và Hồi giáo Islam cuõng không kém quan trọng trong cộng đồng dân tộc Chăm Panduranga.

Mục đích tôi diễn đạt khái quát trên đây về Lễ hội, tôn giáo trong nền văn hóa và lịch sử Champa là để góp ý thêm trong nội dung bài diễn văn của Bà Hoàng Thị Uứt Lan, Phó Chủ Tịch tỉnh Ninh Thuận phát biểu tại Tháp Poklong Garai nhân Lễ hội Katê 2000 vừa qua:

– Ðại ý bài diễn văn của bà Phó Chủ Tịch là chào mừng và chúc tụng Lễ Hội Katê của dân tộc Chăm trong đó có một đoạn Bà nói: “Lễ hội Katê được tổ chức từ các đền Tháp đến các làng mạc người Chăm Bàlamôn và chúc đồng bào Chăm ăn Tết …”

Tuy thực tế Katê được tổ chức long trọng đối với người Chăm Bàlamôn, nhưng theo tinh thần Lễ hội Katê là Lễ hội của toàn thể dân tộc Chăm không phân biệt tín ngưỡng, ý thức hệ hay sắc thái, được nhà Vua Champa hạ lệnh đến khắp dân gian phải đón mừng để tượng trưng cho tính dân tộc. Ngày Katê là ngày lễ trọng đại của toàn dân tộc Chăm, chứ không phải là ngày lễ riêng của người Chăm Bàlamôn hay tết của người Chăm Bàlamôn.

Ngày Katê 2000 tại Tháp Pô Klaung Girai có sự tham dự của các vị khách ở Bộ Văn Hóa và Tổng Cục du lịch, các vị khách lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận, đại biểu dân tộc Chăm tại trung ương, và nhiều phóng viên truyền thông nước ngoài. Nếu Bà phó Chủ tịch tỉnh nói như vậy seõ tạo thêm sự hiểu lầm của giới truyền tông nước ngoài, thêm sự nhằm lẫn trong cộng đồng người Chăm, nhất là người Chăm theo đạo Bàni và Muslim, vô tình gây sự mất đoàn kết giữa dân tộc Chăm cùng huyết thống, cùng cội nguồn. Qua các lời phát biểu của Bà, người Chăm Bàni, Chăm Muslim seõ kỳ thị người Chăm Bàlamôn, như vậy chính Bà Phó chủ tịch Tỉnh đại diện của chính quyền Việt Nam đã sử dụng giáo điều tôn giáo để tàn phá ý thức hệ dân tộc Chăm. Người Chăm Bàni và Muslim seõ không còn công nhận Lễ hội Katê là Lễ của dân tộc. Người Chăm Hồi giáo nói chung không được thi hành bổn phận của một con dân đối với Tiền nhân Champa. Họ seõ khoác bỏ văn hóa dân tộc mình, và vô tình biến người Chăm Hồi giáo không còn nguồn gốc hay phản bội Tổ Tiên, phản bội dân tộc.

Nhân danh chính quyền, nhân danh chủ nghĩa chánh trị, Bà đã diễn tả lệch hướng văn hóa người Chăm để cho người Chăm không tin vào nền văn hóa của mình, một số người seõ cho đó là mê tín, dị đoan v.v…

Ðáng lý ra Bà phải đề nghị với chính quyền Trung ương chỉ thị cho dân tộc Chăm trên toàn quốc phải đón mừng Lễ hội Katê hay tổ chức Lễ hội Katê; đồng thời khuyến khích dân tộc Kinh sống chung cùng địa phương với dân tộc Chăm đón mừng ngày Lễ văn hóa Việt Nam, bởi leõ Lễ hội Katê dù là lễ truyền thống người Chăm, nhưng văn hóa Chăm cuõng đóng góp cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú và cuõng là nền văn hóa của nhân loại.

Cơ quan văn hóa Trung ương, chính quyền Trung ương và chính quyền Tỉnh, theo quan điểm của tôi nên có trách nhiệm đóng góp và xây dựng tình đoàn kết giữa người Chăm Bàni, người Chăm Islam, và người Chăm Bàlamôn với nhau, tình đoàn kết giữa dân tộc Chăm và dân tộc Kinh, giữa mọi tín ngưỡng trong đồng bào Việt Nam với nhau. Ðại lễ Katê hàng năm là cơ hội để cho giới lãnh đạo chính quyền thực thi đường lối đoàn kết các dân tộc; là môi trường thuận tiện xoa dịu sự dị biệt tín ngưỡng và sắc thái giữa người Chăm Bàlamôn, người Chăm Hồi giáo.

Mong đồng bào Chăm và chính quyền các cấp thực hiện những Lễ hội Katê trong tương lai tốt đẹp hơn, mang màu sắc đoàn kết hơn và toàn khắp quần chúng hơn.

Chúc mừng.

.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *