QUÂY QUẦN BÊN MẸ: MỘT TRUYỀN THỐNG CAO ĐẸP CỦA NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC CHAMPA

Từ đất Hoa Kỳ cách xa ngàn dặm, đột ngột được tin mẹ lâm trọng bệnh, tôi hối hả cùng em trai đang định cư tại Hoa Kỳ, mua vé máy bay trở về Plây Brầu, nơi chôn nhao cắt rún của tôi, ở Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận, miền Trung Việt Nam. Xuống phi cảng Tân Sơn Nhứt, ngồi trên xe từ Sàigon về Phan Rang, lòng tôi cứ thấp thỏm mong cho mau đến nhà để nhìn được mặt mẹ. Ở vào ngưỡng cửa tuổi sáu mươi, đã có rể, có sui gia, tôi bỗng nhìn thấy như đang sống lại những cảm giác dịu vợi ngày nào còn thơ trẻ, bản thân chưa chấp cánh bay xa, mỗi buổi chiều tà núp sau cánh cửa mong ngóng mẹ cả ngày vất vả với công việc đồng áng trở về với gia đình.

Vừa vào đến nhà, tôi chạy đến ôm chầm lấy thân gầy guộc của mẹ, nước mắt tuôn trào thổn thức khi cảm thấy mẹ vì bệnh già không còn sức lực chuyền hơi ấm cho con như ngày nào. Lòng tôi bỗng ray rứt khôn tả với mặc cảm thiếu sót hầu như không thể tha thứ được do đã không ở bên cạnh mẹ để chu toàn bổn phận của đứa con trai trưởng cất ruột đối với mẹ già đã tảo tần hy sinh quá nhiều cho con cái. Sống trên đất Mỹ tạp chủng, tôi đã phải lăn sả vào cuộc sống thường nhựt, sớm tối phải đối mặt với những thử thách cam go để bao bọc tiểu gia đình bao gồm vợ và các con của riêng mình, đúng như ý nghĩa của thành ngữ mend ends, vá víu đầu tháng và cuối tháng, với bill (hóa đơn) tiền nhà, tiền điện thoại, tiền đổ rác, tiền chợ, v.v… sao cứ tới tấp bủa vầy tháng nào cũng như tháng nấy. Đó là không kể những cảm giác khá nặng nề liên tưởng đến bản thân lúc trở về già sau khi đã có nhiều dịp chứng kiến những thảm cảnh thường xuyên xảy ra tại các nhà dưỡng lão gọi là nursing home.

Nơi đây, các cụ già hoặc do tự ý hoặc do con cháu đưa vào sống trong những căn phòng đầy đủ tiện nghi vật chất hầu như không thiếu một thứ gì, nhưng suốt ngày cứ phải ngồi nhìn ra ngoài trông ngóng một người nào đó tạt qua trao đổi một lời chào, một nụ cười, dăm ba câu chuyện đánh tan bầu không khí cô đơn, buồn tẻ, chán ngắt, chỉ có nhân viên đến giờ mới tới phụ giúp một số việc lặt vặt. Điều éo le là con cháu các cụ nào có phải là những người nghèo khó gì đâu; trái lại, hầu hết họ đều là những người dư ăn dư để, thậm chí còn là những luật sư, bác sĩ, kỷ sư, nha sĩ, doanh gia v.v… không thuộc giới thượng lưu thì cũng là trung lưu, là đằng khác. Đó là không kể trường hợp các cô dâu, sớm thâm nhiễm lối sống Mỹ nặng về tự do cá nhân quá trớn, chỉ muốn sống cuộc sống vợ chồng theo ý riêng mình, không chịu ở chung với cha mẹ chồng già nua lạc hậu nhiều thói tật không thích hợp.

Quay nhìn lại, trong nhà, giữa khung cảnh quá quen thuộc mà tôi đã sống qua thuở thiếu thời, tôi thấy đủ mặt tất cả anh chị em ruột, các cô bác trong và ngoài dòng tộc, môi nở nụ cười chào hỏi, nhưng ánh mắt người nào cũng tiềm ẩn những mối lo âu thấp thỏm chung về bệnh tình của mẹ tôi. Chẳng biết sao, tôi lại cảm thấy như đang có một luồng hơi ấm lan tràn đâu đây như tạo nên một sức sống mãnh liệt dưới mái nhà ấm cúng, thật là ấm cúng, và người mẹ già bệnh hoạn của tôi đang nằm đó, tạo thành trung tâm điểm của cuộc sống, tựa hồ như một kim nam châm cuốn hút các anh chị em và dòng tộc tôi lại với nhau. Tôi cảm thấy tình anh chị em ruột thịt, sự gắn bó sâu đậm giữa các thành phần trong dòng tộc dường như đang được hâm nóng lại và âm ỉ cháy bùng lên, khơi dậy trong lòng người tính ưu việt của thể chế đại gia đình của truyền thống dân tộc Champa mà giờ phút này tôi mới cảm nhận đến mức tột cùng ý nghĩa và chân giá trị, trong nước mắt và suy tư.

Trong cái tình đại gia đình theo truyền thống dân tộc Champa, được xây dựng trên cơ sở mẫu hệ, mặc dầu theo thời gian, đã trải qua nhiều biến đổi do tác động của xã hội bao quanh bên ngoài, về cơ bản, đứa con gái út bao giờ cũng thủ giữ vai trò rường cột tiếp nối dòng tộc; người con trai lập gia đình phải sang sống bên nhà vợ, cho đến khi chết, thân xác được mang về chôn (nếu là dòng tộc Chăm Awal), hoặc hỏa táng (nếu là dòng tộc Cham Ahier) đặt tại nghĩa trang hoặc Kut của dòng họ mẹ. Do đó, trong xã hội Chăm, vai trò của người mẹ là vai trò trung tâm trong cuộc sống vật chất lẫn tinh thần, qua những nỗi cơ cực tảo tần nuôi dưỡng con cái và tiếp nối dòng tộc. Sự việc diễn ra hầu như hiển nhiên như dòng suối chảy, nhưng thực sự lại tiềm tàng những đức kiên trì hy sinh vô bờ bến của người mẹ Chăm. Cho đến khi chính bản thân tự gánh vác lấy trách nhiệm bao bọc một tiểu gia đình của riêng mình, người ta mới cảm thấy tầm ý nghĩa quan trọng đến mức nào. Đó là không kể những giai đoạn nhứt thời thiếu thốn hoặc buồn phiền trong sinh kế, lại cũng lặng lẽ tìm về mẹ để có chút gì chia xẻ về mặt tinh thần hoặc ngay cả trợ giúp về vật chất là đằng khác.

Thân người mãnh mai của người mẹ Chăm phải chịu đựng gánh nặng hầu như ngàn cân trên đôi vai và có khi lại còn phải kín đáo nói dối cha để che đậy một vướng mắc của một đứa con lầm lỡ. Lòng người mẹ Chăm vị tha, bao bọc, thường là hy sinh cho con, thật là không có bến bờ, hầu như đã là một bản năng cao quý mà Ơn Trên đã phú thác cho người mẹ, trong mỗi cảnh đời dù là ngang trái. Từ tập quán bao bọc đó, mới khiến sự quây quần của con cái bao quanh người mẹ Chăm, dù bản thân đã trưởng thành thậm chí đã tạo dựng gia đình của riêng mình, thành một giá trị xã hội bất di bất dịch, một phong cách văn hóa cao quý được bảo lưu từ đời này sang đời khác trong các thôn ấp Champa.

Trên cơ sở vị tha và bảo bọc truyền thống kể trên trong vòng rào các thôn ấp, dân tộc Champa thời cổ đã nâng cao vai trò người mẹ lên cấp đất nước, xây dựng nên truyền thuyết về Po Inư Nagar (còn mệnh danh là Muk Juk) là Đấng Quốc Mẫu hoặc Bà Chúa Xứ, được tôn thờ như một thần linh bảo bọc con dân theo phương cách ảnh hưởng đạo Bà La Môn, dựng nên ngôi Tháp Po Nagar cổ kính, ngạo nghễ chế ngự trên ngọn đồi quay hướng ra biển ở Xóm Bóng, Nha Trang.
Trong lịch sử, sau khi triều đình nhà Nguyễn nước Đại Việt tiến chiếm vùng Kauthara vào khoảng năm 1652-1653 dưới thời Patao Po Nrop, người Chăm co cụm lại trong vùng Panrang – Panrik, sau khi tình hình lắng dịu, vẫn nhẫn nhục góp nhặt huy động phương tiện nghèo nàn xây dựng một ngôi miếu khiêm tốn nhỏ tại làng Hữu Đức, Phan Rang, tiếp tục việc thờ tự.

Điều lý thú được ghi nhận là ngọn tháp Po Nagar ở Nha Trang, không còn người Chăm sống bao quanh, lại được người dân Việt, do tín ngưỡng, tiếp tục duy trì việc thờ tự nhang khói cho đến ngày nay, lôi cuốn khách thập phương đến xin xâm hoặc van cầu một điều gì, đồng thời là môät trung tâm du lịch thu lợi hấp dẫn nữa.
Theo ghi nhận của nhà biên khảo Li Tana, giáo sư sử học tại Đại học Wollogong, Australia, (1), Po Inu Nagar của dân tộc Champa còn được người Việt biến thể, tôn vinh thánh Thiên Y Ana Thánh Mẫu, một thần linh, được thỉnh trở ra phương Bắc, được tôn thờ tại một vài ngôi đình miếu lân cận đất Huế nữa.

Vượt qua một vài phút giây xúc cảm đột ngột, tôi quay nhìn ra bên ngoài cửa, thì nhận ra ngay bao nhiêu là gương mặt thân quen của các bậc trưởng thưởng, của quý bà con cô bác bạn bè trong thôn, cùng lo lắng tụ họp đến thăm hỏi bệnh tình của mẹ tôi. Tất cả những lời trao đổi toàn bằng tiếng Chăm thân thương, đem cho tôi bao nhiêu xúc cảm đậm đà chân tình gắn bó của người dòng tộc mà đến giờ phút này tôi mới nhận rõ được chân giá trị, sau một thời gian sống trong ngôi nhà đầy đủ tiện nghi vật chất trên đất Mỹ xa xôi, hầu như thiếu vắng người hàng xóm láng giềng để trò chuyện bằng tiếng mẹ đẻ của mình.

Mẹ tôi bổng trở mình hé mở đôi mắt nhìn anh em tôi rồi liếc qua hướng về bà con hiện diện, miệng nở một nụ cười nhẹ nhàng như một niềm hân hoan chợt đến do được các con đoàn tụ bao quanh, giữa những tình cảm đậm đà của chòm xóm láng giềng. Tôi cảm nhận được niềm vui vô bờ của mẹ và thấy thương mẹ hơn bao giờ hết, thấy gắn bó với anh chị em ruột thịt hơn bao giờ hết. Anh chị em tôi hiện diện là đúng như những ngón tay, có ngón dài ngón ngắn, tánh tình, ý thích mỗi người mỗi khác nhau, và mẹ tôi, người đã sanh chúng tôi ra đời, với phép mầu nhiệm của Đấng Tạo Hóa, đã tạo thành chất kết dính chúng tôi trong một bàn tay mà tôi ý thức là không bao giờ có thể tách rời.

Từ ý thức đại gia đình dòng tộc đó, tôi liền tưởng đến ý thức Bà Quốc Tổ Po Inư Nagar được văn hóa Champa xây dựng thành một thực thể trừu tượng chế ngự toàn dân tộc Champa. Dù cộng đồng người Chăm Ahier ảnh hưởng đạo Bà-la-môn, cộng đồng người Chăm Awal sống theo tín ngưỡng Islam kết hợp với tập tục cổ truyền, cộng đồng người Muslim hành đạo Islam chính thống, nhưng tất cả thành phần của các cộng đồng này trên cơ bản vẫn là người Chăm, không bao giờ có thể tách rời được.

Nếu người mẹ Chăm là mẫu số chung kết hợp anh chị em chúng tôi trong dòng tộc, thì bà Quốc Tổ Po Inư Nagar cũng là một mẫu số chung để mỗi người Chăm cũng nhận thức, và nắm lấy tay nhau trong tình anh em cùng một Mẹ Champa quốc hồn quốc túy. Tôi thiết nghĩ nếu người ta hiểu sự khác biệt theo hướng đa dạng (diversity) cần thiết của mỗi xã hội thì người ta nhận thấy sự tôn trọng lẫn nhau là một nhu cầu bức thiết của cuộc sống. Và điều này, người ta có thể nhận thấy rõ trong xã hội Hoa Kỳ là một hợp chủng quốc bao gồm các thành phần xuất xứ từ Âu sang Á, và Hoa Kỳ đã tiến được đến trình độ một nước công nghiệp tiên tiến, chủ yếu là không câu nệ hoặc khai thác khác biệt chủng tộc, màu da, nhưng luôn luôn phát huy tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Cũng cần ghi nhận rằng Hoa Kỳ không có diễm phúc có được một Po Inư Nagar có uy lực tinh thần bảo bọc và kết hợp về mặt tinh thần như dân tộc Champa.

Trong người tôi, bỗng thấy như dâng tràn một luồng sinh khí thúc đẩy tôi càng thương, càng gắn bó với mẹ già, và càng thấy thấm thía sự quây quần của các con chung quanh mẹ là một truyền thống cao quý của nền văn hóa dân tộc Champa mà tôi tự hào. Đó là niềm tự hào mà thế hệ của tôi thấy cần phải soi sáng cho, và thúc đẩy thế hệ tiếp nối cho các con em đồng nhận thức, quán triệt, và phát huy đầy đủ với tánh cách là người Chăm, trong tinh thần bảo tồn văn hóa dân tộc Champa.

 Faysal Thành Ngọc Có
 San Jose, Hoa Kỳ, tháng 9 năm 2003

 

.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *