Dân Tộc Bản Địa Việt Nam qua Hiến Pháp ngày 01-4-1967

Dân Tộc Bản Địa Việt Nam qua Hiến Pháp ngày 01-4-1967

của nền Đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa

Tác giả: Đắc Văn Kiết
– Cựu Trưởng Ty Phát Priển Sắc Tộc / Việt Nam Cộng Hòa
– Cựu Hội Viên Hội Đồng Sắc Tộc Trung Ương Việt Nam Cộng Hòa (VNCH )

California, Hoa Kỳ ngày 1 tháng 8 năm 2016


Theo tinh thần bản ” Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền : Universal declaration of Human rights ” của Liên Hiệp Quốc được thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 đã khích lệ nhiều Quốc gia trên thế giới ban hành chánh sách nâng đỡ đặc biệt đối với các sắc tộc thiểu số bản địa tại nước họ.
Tại Việt Nam, Hiến pháp nền đệ nhị VNCH ngày 01/4/1967 đã minh định rõ ràng về quyền của các sắc tộc thiểu số bản địa qua các điều 02, điều 24, điều 66, và điều 97 như sau:
Điều 02:
Quốc gia chủ trương sự bình đẳng giữa các công dân không phân biệt nam nữ, tôn giáo, sắc tộc, đảng phái. Đồng bào thiểu số được đặc biệt nâng đỡ để theo kịp đà tiến hóa chung của dân tộc.
Điều 24:
1. Quốc gia công nhận sự hiện hữu của các sắc tộc thiểu số trong cộng đồng Việt Nam.
2. Quốc gia tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào thiểu số. Các tòa án phong tục phải được thành lập để xét xử một số các vụ án phong tục giữa các đồng bào thiểu số.
3. Một đạo luật sẽ qui định những quyền lợi để nâng đỡ đồng bào thiểu số.

 

Điều 66:
Phó Tổng Thống là Chủ tịch Hội đồng các sắc tộc thiểu số, Hội đồng văn hóa giáo dục và Hội đồng kinh tế xã hội quốc gia.
Điều 97:
1. Hội đồng các sắc tộc có nhiệm vụ cố vấn chánh phủ về các vấn đề liên quan đến đồng bào thiểu số.
2. Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội đồng các sắc tộc cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ.

Qua các điều khoản Hiến pháp ngày 01/4/1967 /VNCH đã minh định nêu trên; trước khi nói đến : ” Dân Tộc Bản Địa Việt Nam, ” tôi xin trình bày các ” cụm từ ” sau đây :
– Dân Tộc thiểu số Việt Nam (VN. )
– Đồng bào thiểu số VN.
– Các sắc tộc thiểu số VN.
Cả ba ” cụm từ ” nêu trên thường hay dùng lẫn lộn vì đều cho là ý nghĩa giống nhau về phương diện tổng luận; nhưng khi xét về sự khác biệt giữa ” Thực thể ” và ” Thực tế “, cả ba cụm từ trên được xác định rõ ràng qua hai thành phần sau đây:
Thành phần thứ nhất:
– Gọi là ” Dân Tộc Thiểu số VN ” ( không phải là dân tộc bản địa ):
Họ là những công dân ở các quốc gia có chủ quyền hiện hữu trong cộng đồng thế giới. Vì lý do nào đó đến làm ăn sinh sống và định cư tại Việt Nam, và trở thành công dân nước Việt. Thành phần này gọi là ” Dân Tộc Thiểu Số “, không phải là dân tộc bản địa, như: Người Việt gốc Ấn; Người Việt gốc Hoa; Người Việt gốc Khờ Me; và họ không được hưởng qui chế riêng biệt qua sắc luật 033/67 do điều 24 Hiến pháp qui định. Bởi vì họ từ nơi khác đến định cư ở Việt Nam, nên không phải là ” Dân Tộc Bản Địa. ”
Riêng người Việt gốc Khờ Me, tuy họ sinh ra và lớn lên ở những tỉnh miền Tây từ lâu đời và cũng là quê hương của tổ tiên họ; nhưng bây giờ họ còn có quốc gia Campuchia, có chủ quyền hiện hữu; nên chỉ được thành lập một ” Tổng Nha Miên Vụ ” riêng biệt cho họ. Tuyệt nhiên, người Việt gốc Khờ Me không được hưởng qui chế riêng biệt qua sắc luật 033/67 cho ” Các Sắc tộc bản địa Việt Nam ” như: Thượng Tây nguyên miền Nam; Thượng di cư từ Bắc vào, và sắc tộc Chăm.

 

Thành phần thứ hai:
– Gọi là: ” Các sắc tộc thiểu số VN ” hay còn gọi là: ” Đồng bào thiểu số VN. ” Thành phần này chính là ” Dân Tộc Bản Địa VN. ”

Họ là những người thuộc các sắc dân khác nhau như:
– Thượng Tây nguyên miền Nam: Radhé, KaHo, Banar, Jarai, m’nông, Stiêng, v. v…
– Thượng miền Bắc di cư vào: Nùng, Tày, Mường, Thái, v. v…
– Sắc dân CHĂM ( Thần dân của Vương Quốc Champa cổ)

Mỗi Sắc tộc trên đều có một nguồn cội văn hóa truyền thống riêng, nguồn gốc lịch sử riêng,… Nhưng tổ tiên của những thành phần này đã có mặt tại giải đất Việt Nam ngày nay từ lâu đời, có công khai sơn phá thạch, và sinh cư ở đây trước người Việt Nam đến. Thành phần này gọi là ” Đồng bào thiểu số ” hay ” Các Sắc tộc thiểu số VN ” và họ chánh là ” Dân Tộc Bản Địa Việt Nam. ”

Cho dù dưới thời Việt Nam Cộng Hòa vẫn chưa nói đến cụm từ ” Dân Tộc Bản Địa ” vì sự nhậy cảm liên quan đến ” Tự Trị “, chánh phủ không muốn có tình trạng ” một quốc gia trong một quốc gia “. Tuy nhiên, qui chế riêng biệt qua sắc luật 033/67 dành cho thành phần này như một hình thức ” Tự quản ” về nhiều lãnh vực trong sinh hoạt quốc gia qua những quyền lợi đặc biệt của ” Dân Tộc Bản Địa ” sau đây:

 

Về quyền lập pháp:
Các sắc tộc Thượng Tây nguyên, Thượng miền Bắc, và Sắc tộc Chăm đều có đại diện tại Quốc Hội lưỡng viện như: Thượng nghị sĩ, Dân biểu Quốc Hội, và Nghị Viên Hội đồng Tỉnh.
Về quyền hành pháp:
1. Có Hội Đồng các Sắc tộc do Phó Tổng Thống làm Chủ tịch. Hội Đồng sắc tộc có nhiệm vụ cố vấn cho chánh phủ về những vấn đề liên quan đến ” Các sắc tộc thiểu số Bản địa ” toàn quốc.
2. Bộ Phát Triển Sắc Tộc (PTST), người sắc tộc làm Tổng Trưởng; có quyền hành như các Tổng Trưởng của các Bộ khác trong nội các chánh phủ.
Tổng Trưởng Bộ PTST là ” Quản lý viên kinh phí quốc gia ” dành cho Bộ này và không lệ thuộc vào một Bộ nào trong quốc gia.
Kinh phí hằng năm của Bộ PTST sau khi được Quốc Hội Lưỡng viện chấp thuận, sẽ được dùng vào việc nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh và mọi nhu cầu cần thiết khác dành cho ” Dân Tộc Bản Địa “.
– Tại các Tỉnh toàn quốc có dân số ” Các sắc tộc thiểu số ” đông đảo đều có thành lập Ty Phát Triển Sắc Tộc để thi hành chánh sách của chánh phủ dành cho các Sắc Tộc Thiểu Số Bản Địa; và tại các quận lỵ đều có Chi PTST và một trung tâm ” Canh Mục ” để làm thí điểm canh tác nông nghiệp và chăn nuôi gia súc do đoàn ” Cán bộ Xây dựng Sơn Thôn ” phụ trách.
– Các Trưởng Ty PTST có quyền tuyển dụng nhân viên hành chánh và cán bộ bán quân sự gọi là ” Cán bộ Trường Sơn ” hay là ” Cán bộ Xây dựng Sơn thôn ” để chuyển lên Bộ PTST hợp thức hóa bằng một ” Quyết định ” mà không cần phải qua ý kiến của Tỉnh Trưởng sở tại.
– Những Dự án Tự túc Phát Triển Xã Thôn Sắc tộc thiểu số đều do ” Cán bộ Xây dựng Sơn Thôn ” phụ trách dưới sự điều khiển của Ty PTST, không lệ thuộc vào Tỉnh đoàn ” Cán bộ Xây dựng nông thôn ” của Tỉnh, chỉ dành phục vụ cho người Kinh.
– Các Ty PTST có Ký Túc Xá nuôi ăn ở cho học sinh sắc tộc thiểu số Bản địa. Từ các nơi Thôn, Xã, Huyện đến học bậc Trung học ở Tỉnh. Sau khi học xong Trung học, sẽ vào Thủ đô Sài Gòn ở tại Ký Túc Xá ” Tân Quí Đông ” (Khánh Hội) dành cho các sinh viên sắc tộc Bản địa theo học các phân khoa Đại học.
– Ty PTST xét cấp học bổng cho các học sinh nghèo hiếu học gốc sắc tộc bản địa; mở các lớp ” Bình dân giáo dục ” để thanh toán nạn mù chữ cho đồng bào các sắc tộc và can thiệp với các Ty Sở và các cơ quan khác trong toàn Tỉnh liên hệ về tất cả những vấn đề liên quan đến đời sống các sắc tộc thiểu số Bản địa tại Tỉnh nhà.
– Cũng như các Trưởng Ty: Hành chánh, Nội An, Nông nghiệp, Tài chánh, Học chánh, Thuế vụ, Thông tin, Điền địa, Xã Hội v. v… phụ trách giảng dạy về lãnh vực của mỗi Ty Sở. Trưởng Ty PTST cũng phụ trách giảng dạy cho Xã Trưởng, Ấp Trưởng toàn Tỉnh Kinh cũng như Thượng hiểu biết về chánh sách của chánh phủ đối với Sắc tộc Bản địa tại Trung Tâm Tu Nghiệp Công Chức Tỉnh. Mục đích để các viên chức xã ấp hiểu biết về chánh sách hầu phối hợp thi hành.
– Một Trung Tâm Huấn Luyện tại PleiKu dưới sự quản lý của Bộ PTST, có nhiệm vụ huấn luyện đào tạo ” Cán bộ bán quân sự ” gọi là ” Cán bộ Xây dựng Sơn Thôn ” về việc sử dụng các loại vũ khí bán quân sự, và hiểu biết về chiến thuật cơ bản để phối hợp giữ gìn an ninh xã ấp sắc tộc thiểu số Bản địa cũng như huấn luyện họ có kỹ năng tổng quát về việc xây dựng xã thôn sắc tộc. Số cán bộ này sau khi huấn luyện rồi, sẽ tăng cường cho các Ty PTST điều hành và sử dụng.
Các Định Chế đặc biệt khác
a/- Về hành chánh chánh trị:
– Vài Tỉnh trên Cao nguyên có vị trí chiến lược đặc biệt đều do người thiểu số sắc tộc Tây nguyên làm Tỉnh Trưởng.
– Hầu hết các Tỉnh trên Cao nguyên đều có Phó Tỉnh Trưởng Thượng Vụ do người sắc tộc Tây nguyên đảm trách.
– Tại các quận có hầu hết là sắc dân thiểu số bản địa, đều do người Sắc tộc thiểu số bản địa giữ chức vụ quận Trưởng. Các Vị quận Trưởng này được kim luôn Tòa Hòa giải để xử những việc tố tụng liên quan đến phong tục tập quán, văn hóa truyền thống giữa người sắc tộc bản địa với nhau.
– Các sắc dân bản địa tại các tỉnh trên cao nguyên đều có Tòa Án Phong Tục Thượng, do chánh án người Thượng đảm trách.
– Các Xã thôn của sắc tộc thiểu số bản địa đều do người sắc tộc bản địa điều hành và tự quản với nhau dù họ ở trên vùng Cao nguyên hay đồng bằng.
– Về phong tục tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ mẹ đẻ, y phục truyền thống bản địa đều được tôn trọng.
b/- Về Kinh Tế:
– Các Sắc tộc thiểu số vẫn được hưởng chánh sách ruộng đất ban hành qua đạo luật số 57 ngày 22-10-1957 qui định nông dân chỉ trả địa tô cho địa chủ 25%, còn 75% cho tá điền được hưởng trọn vẹn. Lúa sản xuất được trả theo diện tích canh tác để trả địa tô, nhưng nếu tá canh cần cù chăm bón làm tăng năng xuất thêm, thì phần năng xuất tăng cao này, tá canh được hưởng hoàn toàn, không phải trả địa tô. Chánh sách này đã giúp cho nông dân CHĂM có đời sống no đủ hơn.
– Chánh sách ” Người cày có ruộng ” thời đệ nhị Cộng Hòa của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được ban hành vào năm 1970 cũng đã giúp cho sắc dân bản địa CHĂM có thêm ruộng đất canh tác gieo trồng, và những nông dân CHĂM ” trực canh ” được làm chủ mãnh đất của mình.
– Ruộng vườn, đất đai tư nhân cũng như những phần đất đai ruộng vườn hương hỏa, được kế thừa của sắc tộc bản địa, đều thuộc quyền sở hữu của họ. Chánh phủ không được quyền chiếm hữu, trưng thu, trưng dụng.
– Đối với sắc dân thiểu số bản địa Tây nguyên, đời sống ” du canh du cư ” của họ sau này gặp khó khăn trước sự di dân ào ạt của người Kinh bởi chánh sách của Ngô Đình Diệm. Đến đời đệ nhị Cộng Hòa qua sắc luật 033/67 đã hợp thức ” bằng chứng khoán ” đất gia cư cho mỗi gia đình Thượng bản địa 7 sào để làm nhà và trồng hoa màu phụ cho gia đình. Mỗi buôn làng được cấp cho một vùng kinh tế riêng biệt với số diện tích tùy theo mật độ dân số mỗi buôn làng. Vùng kinh tế này rộng bao la bao gồm núi rừng, sông ngòi, đất đồng bằng, gọi là ” Khu vực sinh sống chính ” giống như vùng ” Main Living Area ” của dân da đỏ ở Hoa Kỳ mà Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật Wheeler – Howard vào năm 1934 có vùng đất riêng và sống theo truyền thống của họ.
Riêng sắc dân bản địa CHĂM không có ” Khu Vực Sinh Sống Chính ” cho mỗi làng xóm vì sắc tộc CHĂM không có sống du canh du cư như Thượng miền Nam.
c/- Về Giáo dục và Đào tạo nhân viên:
– Chương trình Thổ ngữ ở Tây nguyên và Chiêm ngữ của sắc dân CHĂM được phát huy và chấp thuận cho các con em sắc tộc ở bậc tiểu học được học tiếng mẹ đẻ của mình.
– Các em học sinh trung học được cộng thêm 3 điểm trong các kỳ thi tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp, Tú tài I và Tú tài toàn phần.
– Các học sinh sắc tộc bản địa tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp được theo học sĩ quan trừ bị, thay vì phải có bằng Tú tài I như học sinh người Kinh. Cũng có học sinh sắc tộc bản địa có bằng Tú tài I, họ yêu đời binh nghiệp tình nguyện vào sĩ quan Thủ Đức.
– Học Viện Quốc gia hành chánh dành tỷ lệ 10% cho các sinh viên sắc tộc bản địa toàn quốc ( Qua một cuộc khảo thí chung với sinh viên người Kinh; sau đó cho 10 sinh viên có điểm cao trong tổng số sinh viên sắc tộc bản địa dự thi được nhập học).
– Các nghành nghề thuộc cấp: Cán sự y tế, Cán sự công chánh, Cán sự kiến trúc, Cán sự canh nông, v. v… Nữ hộ sinh Quốc gia các học sinh sắc tộc bản địa được phép dự thi và tranh thắng với nhau để nhập học.
– Các phân khoa đại học chuyên nghiệp như: Y Khoa, Kỷ thuật Phú Thọ, Đại học Sư Phạm, Kỷ sư công chánh, kỷ sư canh nông, Công nghệ, kiến trúc, v. v… Các sinh viên sắc tộc bản địa được Bộ PTST can thiệp cho theo học với một tỷ lệ nhất định nào đó do Bộ giáo dục quyết định.
– Ban Tham sự hành chánh: Ngoài 10% cho các sinh viên sắc tộc bản địa tự tranh thi tính điểm với nhau , sau đó nhập học chung với sinh viên người Kinh; Học viện Quốc gia Hành Chánh còn mở các khóa đào tạo Ngạch Tham sự:
– Ban Tham sự ( gọi là Ban Cao nguyên ) dưới thời đệ nhất Cộng Hòa Ngô Đình Diệm.
– Ban Tham sự ( gọi là Khóa đặt biệt ) dưới thời đệ nhị Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu.
Ngoài ra còn có các Trường đào tạo sau đây dành cho các sắc tộc bản địa:
– Trường Thiếu sinh quân Cao Nguyên PleiKu.
– Trường Kỷ Thuật Y-ÚT Ban Mê Thuộc.
– Trường Sư Phạm Cao nguyên Đà Lạt
– Trường Trung học Pô Kloong Phan Rang
– Một Trung Tâm Văn Hóa CHĂM Phan Rang được chánh phủ cho phép linh mục người Pháp: Gérard Moussay thành lập để nghiên cứu, dịch thuật, và phát huy ngôn ngữ văn tự CHĂM, và còn là nơi trưng bày triễn lãm những sắc nét văn hóa và tín ngưỡng bản địa truyền thống của sắc tộc CHĂM.
Tóm lại các sắc tộc thiểu số bản địa, qua Hiến pháp ngày 01 tháng 4 năm 1967 được nâng đỡ đặc biệt qua sắc luật 033/67 như đã trình bày. Các sắc tộc bản địa tự do sinh hoạt và tham gia những tổ chức đảng phái chánh trị như người Kinh trong cộng đồng dân tộc; tự do mưu cầu phát triển kinh tế, xã hội, văn học nghệ thuật v. v… Và ” Tự quản ” về nhiều lãnh vực trong sinh hoạt quốc gia một cách hợp hiến, hợp pháp để tạo sự Hòa đồng và đồng tiến xã hội. Hòa đồng trong dị biệt (Tôn trọng sự khác biệt) chứ không phải Hòa đồng để Đồng hóa.
Mới đây, Tuyên ngôn về quyền của Dân tộc Bản địa được thông qua bởi Hội Đồng Liên Hiệp Quốc theo nghị quyết số: 61/295 ngày 13/9/2007 gồm tất cả 31 điều khoản tổng quát. Theo tôi, 31 điều khoản đó cũng gói ghém lại trong các điều 02, 24, 66 và 97 của Hiến Pháp VNCH ngày 01/4/1967, cũng như trong sắc luật 033/67 của VNCH mà thôi.
Duy có điều 04 trong Nghị Quyết số: 61/295 của Liên Hiệp Quốc vào ngày 13/9/2007 là ” Quyền Tự Trị “. Điều này Hiến Pháp VNCH ngày 01/4/1967 chưa đề cập đến được vì sự nhậy cảm của vấn đề và ê ngại sẽ có tình trạng ” một quốc gia trong một quốc gia “.
Hơn nữa trong phần mở đầu của Bản Tuyên Ngôn theo Nghị Quyết số 61/295 ngày 13/9/2007 cũng công nhận rằng: Tình hình của các Dân Tộc Bản Địa là khác nhau, tùy theo khu vực và quốc gia; cũng như công nhận rằng: cần phải cân nhắc những đặc điểm khác biệt giữa các quốc gia, khu vực và nhiều yếu tố cơ sở, lịch sử và văn hóa.
Do đó, tôi nghĩ các thể chế chánh trị của các chánh quyền hiện hữu và kế tiếp ở Việt Nam, nếu được tiếp tục thực hiện những quyền của các sắc tộc thiểu số bản địa theo như Hiến Pháp ngày 01/4/1967 của nền đệ nhị VNCH là diễm phúc lắm rồi. Còn muốn tiến xa hơn nữa, cũng cần có thời gian và hoàn cảnh thực tế hiện hữu của Việt Nam.
Tôi đã một lần nói với một bác sĩ Việt Nam có tiếng tăm ở Hoa Kỳ rằng: ” Dân Tộc Bản Địa Champa ” đâu cần phải xin ” Tự Trị “. Để khi nào Việt Nam thực sự văn minh, tiến bộ và giàu mạnh như nước Mỹ, Úc, Canada v. v… thì họ tự động cho “Tự Trị ” thôi.
Đằng này đối với đất nước và xã hội Việt Nam bây giờ, ai cũng thấy đó: Thù trong, giặc ngoài, còn nghèo khổ, rách nát, xã hội suy đồi, nhân tâm ly tán. Nhưng dù sao những hoài bão và ước vọng của các anh em Sắc Tộc Bản Địa đang thiết tha vận động ở Liên Hiệp Quốc về ” quyền của Sắc Tộc Bản Địa ” cũng không sai và đáng trân trọng, vì những ” quyền lợi ” hay gọi là những ” đặc ân ” đối với sắc dân thiểu số Bản địa qua Hiến Pháp ngày 01/4/1967 của nền đệ nhị VNCH đã bị lịch sử sang trang một cách bi thảm và đầy chua xót . /.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *