SINH HOẠT VĂN HÓA VÀ TÍNH NHÂN BẢN

A) Sinh hoạt Văn hóa

NC News – Văn hóa là từ ngữ thường được dùng phổ biến rộng rãi trong nhân gian qua mọi tầng lớp và thành phần trong xã hội. Theo Hán tự: Văn là vẻ đẹp của thiên nhiên, vũ trụ và Hóa là sự biến đổi, chuyển dịch từ trạng thái này sang trạng thái khác. Cũng vậy, theo Anh ngữ: Văn hóa, culture, cũng có cùng một nghĩa là sự biến đổi và chuyển dịch; tuy nhiên, trong Anh ngữ từ ngữ này mang ý nghĩa là sự tăng trưởng, phát triển, tức là có một sự tiến triển dần dần trong lề lối sống, nếp sinh hoạt hằng ngày. Trên đây chỉ là một định nghĩa, dù theo danh từ Hán Việt hay Anh ngữ, nó cũng không nói lên đầy đủ khái niệm tổng quát về văn hóa. Trong ngôn từ thông dụng hằng ngày người ta hay nói một cách chung chung, không chính xác những danh từ ghép nối với nhau như văn hóa xã hội, văn hóa giáo dục, văn hóa nghệ thuật, văn hóa phong tục tập quán. Mặc dù người ta không có một định nghĩa đầy đủ và rõ ràng về hai chữ văn hóa nhưng người ta có thể tìm hiểu sinh hoạt văn hóa qua tính chất căn bản của nó.

a). Tính chất của sinh hoạt văn hóa:
Muốn phân tích để tìm một định nghĩa và tìm hiểu văn hóa, người ta đã chia sinh hoạt văn hóa ra làm hai phần: tính chất và biểu tượng. Trong khi tính chất thuộc về nội dung thực thể thì biểu tượng thuộc về hình thức sắc thái. Trong sinh hoạt văn hóa có nhiều biểu tượng khác nhau cụ thể hóa thành những hành vi khác nhau như tư tưởng, tính tình, tập quán, phong tục, văn hóa, khoa học, nghệ thuật. Sinh hoạt văn hóa có ba tính chất cơ bản và các tính chất do hệ quả tất yếu của ba tính chất cơ bản này gây ra.

1). Tính nhân bản:
Ðây là đặc tính căn bản thứ nhất, nó chiếm một địa vị độc đáo ưu thắng của văn hóa. Thật vậy chỉ có con người mới có sinh hoạt văn hóa, ngoài ra không có động vật nào khác có được. Chỉ có con người mới được Tạo Hóa ban cho khả năng đặc biệt để thực hiện sinh hoạt văn hóa, và chính vì đó mà con người được coi là giống linh thiêng nhất trong số muôn vật. Chỉ có con người mới được Tạo Hóa ban cho trọn vẹn có ba hồn: sinh hồn, giác hồn và linh hồn. Hồn là khả năng sinh hoạt và tồn tại. Sinh hồn là khả năng phân biệt sống, chết. Giác hồn là khả năng phân biệt cảm giác nóng lạnh, vui buồn. Linh hồn là khả năng suy lý, phán xét, và kinh nghiệm. Ðây cũng có thể gọi là phần lý trí của con người.

Người ta chia vạn vật ra làm bốn loại: Khoáng vật như đất đá gọi là loài vô hồn vì nó không biết sống chết, sướng khổ, nóng lạnh hay phải trái. Thực vật như cây cỏ, rau trái chỉ có một hồn là chỉ biết có sống hay chết mà không biết sướng khổ, nóng lạnh hay phải trái. Ðộng vật, ngoại trừ con người, chỉ có hai hồn là sinh hồn là giác hồn. Thú vật như trâu bò, chó mèo hay loại gia cầm hay thú rừng chỉ biết sống chết, nóng lạnh, sung sướng hay khổ đau nhưng không biết phân biệt được phải trái. Chỉ có con người mới có đủ ba phần hồn nên biết sống chết, sướng khổ, nóng lạnh, và biết suy lý. Con người hơn các động vật khác là nhờ có phần lý trí này để phán xét, để rút tỉa kinh nghiệm mà tiến hóa.

Hệ quả từ tính chất căn bản này là tâm linh và hướng thượng. Tâm linh thuộc về phần tính chất nhân bản của sinh hoạt văn hóa, nó thuộc về phạm vi nội giới, tư tưởng và tình cảm, và trừu tượng trong khi đó biểu tượng văn hóa thuộc về ngoại giới, văn học và nghệ thuật, phong tục nghi lễ, thuộc cảnh giới hiện tượng cụ thể.

Tính hướng thượng cũng là một hệ quả tất yếu của sinh hoạt văn hóa. Con người nhờ có phần linh hồn hay nói cách khác là phần lý trí, và nhờ đó con người mới biết suy lý phán xét, đắn đo cân nhắc, hay rút kinh nghiệm cho chính mình hay cho đồng loại. Ðây là đời sống trí tuệ của con người, theo đó vì tính hướng thượng mà con người đã đem lại một nền văn minh tiến bộ vượt bực ngày hôm nay. Loài vật chỉ có sinh hồn và giác hồn; vì không có phần linh hồn nên loại vật không có đời sống trí tuệ. Loài vật không có sáng kiến, không có văn minh tiến bộ, không rút được kinh nghiệm trong sinh hoạt thực tế nên loài vật không có văn hóa. Chúng ta cũng đồng ý rằng nhiều giống vật cũng có nếp sống xã hội, có lề lối sinh hoạt tập thể, có khả năng thích ứng mưu sinh để tồn tại như con người, nhưng cái lối sống nếp sinh hoạt ấy chỉ là thói quen hoạt động mưu sinh, kiếm mồi ăn, chống trả kẻ thù, và chống trở ngại thiên nhiên như khí hậu thời tiết. Lý trí con người hơn hẳn bộ óc con vật nên đã điều khiển được những con vật lớn hơn mình nhiều cũng như sáng chế nhiều tiện nghi tiến bộ để phục vụ cho cuộc sống.

2). Tính không gian:
Vì ở tiền đề đã khẳng định rằng chỉ có con người mới có sinh hoạt văn hóa, mà con người thì sống ở nhiều vùng không gian khác nhau, từng lãnh thổ, khu vực khác nhau, nên tính không gian là tính căn bản thứ hai của sinh hoạt văn hóa. Hơn nữa, trong từng vùng khác nhau ấy có những cư dân sinh sống khác nhau về chủng tộc, tôn giáo hay ý thức hệ v.v… nên nó có tính chất bác tạp và dị biệt, không có nơi nào giống nơi nào trên mặt đất này. Ngay cả các cư dân cùng sống trong một quốc gia, cùng có một nền văn hóa dân tộc, nhưng người thành thị có sinh hoạt khác với người thôn quê, người đồng bằng có sinh hoạt văn hóa khác với người ở vùng cao nguyên rừng núi v.v… Thoạt nhìn ở tính chất căn bản thứ hai này ta thấy vì tùy thuộc vào môi trường mà sinh hoạt văn hóa của con người sinh ra nhiều tính chất dị biệt, bất đồng. Thực tế cho ta thấy như vậy nhưng nghĩ sâu xa hơn ta mới thấy là tất cả con người đều có nhiều điểm rất giống nhau. Ðó là con người ai cũng có phần xác và phần hồn, ai cũng cùng muốn sống trong một tập thể để cùng hợp sức và nương tựa lẫn nhau để cùng tồn tại và tiến hóa. Ðó là tính chất nhân bản lấy con người làm tiêu chuẩn và điều này làm cho sinh hoạt văn hóa có tính chất đồng nhất. Tính chất bất đồng và đồng nhất trong sinh hoạt văn hóa thoạt nghĩ như là mâu thuẫn đối nghịch nhau, nhưng trải qua nhiều ngàn năm lịch sử của nhân loại các sử gia đã nhận xét thấy rằng chúng đã bổ túc cho nhau tạo nên nguồn sinh lực cho sinh hoạt văn hóa, dẫn dắt nhau đến một sự văn minh tiến bộ trong nếp sống hàng ngày. Nếu thiếu tính dị biệt, tính nhân bản đồng nhất này làm cho sinh hoạt văn hóa rơi vào tình trạng bất biến, không tiến bộ được. Nếu thiếu tính đồng nhất, tính dị biệt và bất đồng sẽ đưa sinh hoạt văn hóa rơi vào tình trạng phân hóa, tan rã và sẽ không tồn tại lâu dài. Thuyết nhị nguyên có tác dụng hỗ tương hay thuyết nguyên lý âm dương đồng nhất đã chứng minh điều này. Ngày nay nhân loại có một nếp sống tiện nghi tiến bộ trong sinh hoạt hằng ngày là nhờ sự giao lưu văn hóa giữa Ðông và Tây, hay nói cách khác là nhờ sự bổ sung giữa bất đồng và đồng nhất trong sinh hoạt văn hóa trong tính không gian này. Nó mãi mãi bổ túc cho nhau không ngừng nghỉ cho tới lúc mà có thể coi là kiện toàn.

3). Tính thời gian:
Nếu nói sinh hoạt văn hóa có thể truyền đạt giữa con người từ nơi này tới nơi khác thì nó cũng có thể truyền đạt được từ thế hệ này tới thế hệ khác, giữa con người ở thế kỷ này và thế kỷ sau và mãi mãi. Ðó là tính chất căn bản thứ ba của sinh hoạt văn hóa: tính thời gian. Thật vậy, sinh hoạt văn hóa của con người không thể tách khỏi lịch sử về tính chất truyền thừa sinh hoạt văn hóa qua thời gian. Nói tóm lại, sinh hoạt văn hóa không tách rời với lịch sử dân tộc hay rộng hơn là lịch sử nhân loại.

b). Biểu tượng của sinh hoạt văn hóa
Như đã trình bày ở trên, sinh hoạt văn hóa có hai phần: tính chất và biểu tượng. Trong khi tính chất sinh hoạt văn hóa thuộc về nội dung thực thể thì biểu tượng của sinh hoạt văn hóa thuộc về hình thức sắc thái. Sinh hoạt văn hóa có nhiều biểu tượng khác nhau được cụ thể hóa thành những hành vi khác nhau. Trong sinh hoạt hàng ngày, sinh hoạt văn hóa có mặt khắp mọi nơi, mọi việc. Từ việc người mẹ dạy con về đức dục như không được nói dối hay phải thương yêu mọi người và giúp đỡ người, đến việc người cha truyền lại cho con những kinh nghiệm về cuộc sống hay công ăn việc làm v.v… Trong phạm vi tập thể xã hội, các công tác về giáo dục, văn hóa và nghệ thuật như âm nhạc, điện ảnh, tuồng kịch, hội họa là những sinh hoạt văn hóa. Nhưng giới hạn sinh hoạt văn hóa vào những sinh hoạt trên thôi là chưa đủ, vì phạm vi văn hóa còn rộng rãi hơn nhiều, nó phổ quát và bao trùm tất cả mọi hoạt động cần đến tâm linh, trí tuệ của con người. Biểu tượng của sinh hoạt văn hóa con người có nét đặc thù hơn cả là thông tin với nhau bằng ngôn ngữ và văn tự. Không như loài vật, chúng chỉ có tiếng kêu, cử chỉ và thái độ để thông tin với nhau ít hiệu lực hơn và ít chính xác hơn, con người đã dùng tiếng nói và chữ viết làm phương tiện thông tin có hiệu lực tinh vi và chính xác hơn nhiều. Nhờ có ngôn ngữ và văn tự mà con người truyền kinh nghiệm hiểu biết cho nhau từ nơi này đến nơi khác, từ thế hệ này đến thế hệ khác, không bị giới hạn bởi khu vực hẹp hòi và thời gian ngăn ngủi. Nhờ vậy mà các sinh hoạt văn hóa như những tư tưởng lớn, tôn giáo, triết học, lý thuyết cũng như những nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế trong mọi lãnh vực: chính trị, kinh tế và xã hộc được truyền từ nơi này đến nới nọ, từ thế hệ này tới thế hệ sau. Tất cả các cứu cánh sinh hoạt của văn hóa duy nhất là để phục vụ con người từ phần xác lẫn phần hồn. Những nguyên tắc tập trung quyền hay phân quyền, những chế độ độc đảng hay đa đảng, phổ thông đầu phiếu v.v… là những biểu tượng của sinh hoạt văn hóa trong lãnh vực chính trị; hải cảng, phi trường, ngân hàng, xưởng chế tạo sản phẩm là những biểu tượng của sinh hoạt văn hóa trong lãnh vực kinh tế; bệnh viện, tiệm thuốc, lực lượng cảnh sát, trại giam là những biểu tượng của sinh hoạt văn hóa trong lãnh vực xã hội; đền thờ, nhà chùa, lăng miếu là biểu tượng của sinh hoạt văn hóa trong lãnh vực tôn giáo tín ngưỡng; nghi lễ cưới xin, ăn mừng tuổi thọ, phúng điếu nhà có đám tang, thăm hỏi người thân là những biểu tượng của sinh hoạt văn hóa thuộc lãnh vực phong tục, tập quán. Nói tóm lại, từ các chính sách, kế hoạch lớn có tầm vóc quốc tế đến các động tác thường ngày tất cả đều là biểu tượng của sinh hoạt văn hóa.

B) Tính nhân bản trong văn hóa nhân loại
a
). Tinh hoa của văn hóa:
Văn hóa là cái đẹp riêng của con người thể hiện ở lề lối sống hàng ngày, sinh hoạt văn hóa có tính hướng thượng tạo thành cái đẹp cao quý của con người. Khi văn hóa phát triển tiến bộ, đạt đến một trình độ đáng kể trong đời sống thực tế thì gọi là văn minh. Khi nếp sống văn minh được sắp xếp hài hòa thành những định chế quy định cuộc sống tập thể xã hội đem lại sự thịnh trị, phồn vinh và hạnh phúc cho mọi người, khi đó gọi là văn hiến. Ðó chính là tinh hoa văn hóa.

Sinh hoạt văn hóa bác tạp, dị biệt theo không gian và theo thời gian, không ở nguyên ở thể tỉnh. Nó luôn luôn di động, chuyển hóa và diễn biến tiến triển theo giòng lịch sử, như một cái cây đang mọc và mỗi ngày mọc thêm lên một chút. Chúng ta ví sinh hoạt văn hóa như một cái cây, cũng mỗi ngày mỗi mộc thêm ra, mỗi ngày mỗi thăng tiến, phát triển. Cây mộc thêm ra và lớn lên nhờ nó hấp thụ chất hữu cơ dưới đất, hấp thụ ánh sáng, hơi nóng, khí oxy trong không khí, tạo thành mạch nhựa hay là dưỡng chất lưu thông trong cây. Còn sinh hoạt văn hóa thì thăng hoa thăng tiến nhờ cái gì? Ðó không phải là nhờ mạch nhựa cốt lõi là “tính nhân bản” hay sao? Như vậy có thể nói rằng cái đẹp cốt tủy ở con người là tính nhân bản (hay gọi là nhân tính). Tuy con người có hai loại sinh hoạt: một sinh hoạt có nhân tính và một sinh hoạt phi nhân tính. Những việc làm tội lỗi, vô nhân đạo, vô lương tâm được cho là những hành động không tính người, phi nhân tính và bị nguyền rủa, và bị con người cố gắng loại bỏ, đào thải để cho sinh hoạt văn hóa phải có mục tiêu và đạt được kết quả duy nhất là phục vụ cho nhân sinh, đi ra ngoài mục tiêu vì nhân sinh thì không còn là tinh hoa văn hóa nữa. Vì vậy tinh hoa văn hóa chính là giá trị thiêng liêng cao quý ở con người.

Tiêu biểu cho tính nhân bản này, có hai học thuyết. Bên trời Ðông Á thì có thuyết Tính Thiện của Khổng Giáo và bên Tây Âu thì có thuyết lòng nhân ái bẩm sinh của Ðại văn hào Jean Jacques Rousseau, nhà văn hào này cũng nổi tiếng về tư tưởng tự do, dân chủ và luân lý đạo đức của ông ta.

Thuyết Tính Thiện chủ trương con người sinh ra tính vốn lương thiện và có khuynh hướng không thích làm điều ác, tội lỗi. Ðó là tính thiện bẩm sinh, ai cũng có như ai. Sở dĩ trong cuộc sống tập thể xã hội thực tế hằng ngày ai cũng nhận thấy có kẻ xấu, người tốt, người làm ăn lương thiện hay kẻ hành động phi pháp bất lương vì người tốt giữ được tính thiện bẩm sinh và người xấu không giữ được tính này để trở thành bất lương. Vì vậy thuyết này cho rằng giáo dục là điều cần thiết để ngăn chặn tính ác, tính xấu để đưa con người trở lại tính thiện vốn có của con người.

Nhìn sang phương trời Âu Tây, thuyết “lòng nhân ái bẩm sinh” còn gọi là thuyết Tâm lành bẩm sinh có nội dung như thuyết Tính Thiện của Khổng Giáo vậy. Thuyết này cho rằng con người bị xã hội làm cho hư xấu đi; do đó, việc giáo dục cho con người là cần thiết, không thể thiếu để đem con người trở lại Tâm lành.

Trong lãnh vực tôn giáo, đạo Phật và đạo Thiên Chúa cũng đều dạy những điều tương tự. Theo Phật Giáo, tất cả mọi người đều có thiện tâm, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Tu tập, hành trì tam quy ngũ giới là giữ gìn và vun trồng Phật tính không để cho vọng tính tà niệm làm chao đảo rồi bị lôi cuốn vào si mê tội lỗi. Thiện tâm hay Phật tính là tính nhân bản, là tinh hoa văn hóa của nhân loại.

Theo Thiên Chúa Giáo, Chúa đã sinh ra chúng ta và ban cho chúng ta lòng nhân ái, biết yêu thương, đó là lòng lành. Nghe theo Chúa là nghe theo lòng lành của chính mình, đừng nghe theo quỷ Sa-tăng, tượng trưng cho điều xấu, tội lỗi, luôn luôn rình rập xúi dục con người làm điều sai quấy.

Các học thuyết và các tôn giáo lớn của nhân loại đều nói lên và xác nhận một chân lý hiện hữu, đó là tính nhân bản ở con người là tinh hoa văn hóa của con người. Như vậy tính nhân bản là gì? Ðó là một vấn đề mà con người vẫn còn đang nghiên cứu.

Như chúng ta đã biết con người là vật thiêng liêng đứng trên muôn loài vật khác, có một nền văn minh tiến hóa hơn hẳn loài vật khác. Về mặt biểu tượng của sinh hoạt văn hóa, nếu căn cứ vào sự thực diễn ra trong lịch sử nhân loại qua những sinh hoạt thực tế của con người, bên cạnh những thành tựu tốt đẹp là cùng dẫn dắt nhau đến chỗ văn minh tiến hóa, con người cũng là vật nguy hiểm nhất đối với con người trong những môi trường có tính chất nhất thời nào đó như con người độc ác, gian manh với con người. Con người giết hại đồng loại nhiều nhất, nhanh nhất bằng phương pháp tinh vi hữu hiệu nhất. Bên cạnh những yếu tố có tính cách tiêu cực này, con người đã tạo nên những thành quả tích cực, tốt đẹp cho con người nhiều gấp bội. Và đó là bản chất văn hóa nhân loại hiểu theo nghĩa tinh hoa văn hóa của con người.

b). Ðời sống con người và tiến trình sinh hoạt văn hóa
Ðể có một nhận xét toàn diện về nhân bản theo nghĩa giá trị thiêng liêng của con người, lần lượt đề cập đến hiện trạng và định hướng tiến trình văn hóa nhân loại ở thời đại ngày nay.

Ðời sống con người từ lúc sinh ra đến khi chết đi thật là phức tạp, đa dạng và luôn chuyển hóa. Ðại cương theo tâm sinh lý học, con người có hai đời sống: đời sống thể chất và đời sống tâm linh. Trong đó đời sống tâm linh được chia làm hai loại: đời sống tình cảm và đời sống trí tuệ. Như vậy tổng cộng con người có ba đời sống tác động ảnh hưởng lẫn nhau tạo thành nguồn sinh lực con người.

1). Ðời sống thể chất:
Ðó là đời sống sinh lý, đời sống động vật gồm những sinh hoạt như ăn uống, nghỉ ngơi, sinh sản, chống lại bệnh tật. Ðời sống thể chất có hai chiều tác động từ cá nhân con người đến ngọai cảnh môi sinh và ngược lại; nói cách khác, con người ứng đối với ngoại cảnh và chịu sự chi phối của ngoại cảnh.

Tương quan giữa hai lực tác động này chính là đời sống thể chất của con người và của các sinh vật khác như động vật và thực vật. Về đời sống thể chất, con người giống như cây cỏ và cầm thú. Nếu tương quan giữa hai lực tác động từ sinh vật đến ngoại cảnh và từ ngoại cảnh đến sinh vật cân bằng thì sinh vật tồn tại. Trường hợp lực tác động từ sinh vật mạnh hơn thì sinh vật này gia tăng và tiến hóa như trường hợp con người. Trường hợp lực tác động từ ngoại cảnh mạnh hơn thì sinh vật sẽ bị hủy diệt. Hiện nay con người có tuổi thọ cao hơn, đối đầu với nạn nhân mãn và phải hạn chế sinh đẻ là bằng chứng cho thấy lực tác động từ con người đến ngoại cảnh mạnh hơn.

2). Ðời sống tình cảm:
Gồm những sinh hoạt tâm lý như vui buồn, sướng khổ, yêu ghét, mừng giận, thích sợ v.v… Chiều hướng đời sống tình cảm là xây dựng hạnh phúc, nói cụ thể là làm bớt khổ thêm vui cho chính mình và cho mọi người trong cuộc sống tập thể từ gia đình đến xã hội, từ dân tộc đến toàn thể nhân loại. Luân lý đạo đức, tín ngưỡng tôn giáo đóng vai trò hướng dẫn tình cảm con người đến mục tiêu xây dựng hạnh phúc, đồng thời tạo cho con người một động lực tiến tới mục tiêu. Ðộng lực này làm cho con người tỉnh thức và dũng mãnh chế ngự và khuất phục được tình cảm thấp hèn, và vun trồng những tình cảm cao thượng ngay chính trong cá nhân mình và mọi người.

3). Ðời sống trí tuệ:
Hay gọi là đời sống tư tưởng, đời sống ý thức gồm những sinh hoạt trí não như nhận xét, suy luận, phán đoán, sáng kiến. Ðời sống trí tuệ và đời sống tình cảm hợp lực dẫn con người đến Chân, Thiện, Mỹ. Nhà đạo đức, bậc hiền nhân hướng về tình cảm nhiều hơn trong khi đó triết gia, khoa học gia hướng về trí tuệ nhiều hơn. Ðiều quan trọng trong đời sống trí tuệ là sự tỉnh thức, con người cần luôn luôn sáng suốt định hướng cho đời sống trí tuệ, tránh mọi cố chấp thiên kiến sai lầm, u mê làm cho con người lạc lối trong khi đi tìm tự do hạnh phúc.
Từ ba đời sống nói trên, con người tùy theo không gian và thời gian đã có những khuynh hướng khác nhau và đại lược chia làm ba hạng người đóng vai trò khác nhau dẫn đến tình trạng hiện nay của văn hóa nhân loại.

* Hạng tôn trọng thần quyền: Hạng người này có khuynh hướng bảo thủ và càng ngày càng giảm bớt ảnh hưởng tác động lên cuộc sống nhân loại. Hạng người này chủ trương con người do một đấng Thiêng Liêng cao cả nào đó sinh ra, ban cho một số ân huệ như biết sống, có tình cảm và trí tuệ, biết mình có khả năng và giá trị tinh thần hơn loài động vật khác. Song song với những ân huệ này, đấng Thiêng Liêng cao cả cũng ban cho một số mệnh lệnh con người phải tuân theo và thi hành một cách nghiêm chỉnh, không có quyền làm sai trái khác biệt đi. Vâng lời đấng Quyền Năng này, con người được sống yên vui hạnh phúc, tiến hóa văn minh, nếu bất tuân sẽ bị trừng phạt, sống trong đau khổ, bệnh tật, chết chóc v.v… Con người cần phải có niềm tin tuyệt đối vào nguyên lý ân huệ và mệnh lệnh này, không cần chứng minh giải thích vì lý do khả năng trí tuệ con người không đủ để làm việc này. Nhận thức giá trị nhân bản như vậy, con người phải biết an phận làm người, nghĩa là hưởng thụ ân huệ và tuân hành mệnh lệnh của Ðấng Quyền Năng Cao Cả để tránh sự trừng phạt dành cho kẻ không tuân hành.
   
Từ thời cổ đại con người đã thờ Thần Nắng, Thần Mưa, Thần Sấm Sét … nghĩa là những vị Quyền Năng vô hình có tác động đến cuộc sống con người. Ngày nay khoa học tiến bộ, triết học mở rộng tầm mắt con người, khuynh hướng bái vật đa thần hầu như không được nhiều người tin theo. Khi có hạn hán làm thiệt hại mùa màng, người ta tìm cách dẫn thủy nhập điền hay tát nước, bơm nước.
 
Trong lãnh vực tín ngưỡng và triết học, khuynh hướng tôn trọng thần quyền và con người biết an phận là mầm mống sinh ra những tôn giáo. Khuynh hướng này chủ trương tín đồ cần có niềm tin tuyệt đối vững chắc ở đấng Thiêng Liêng Cao Cả đóng vai trò chân sư để chăn dắt tín đồ theo đạo, sinh ra thuyết Ðịnh Mệnh, hay còn gọi là thuyết Thiên Mệnh, Số Mệnh hay Số Kiếp tùy theo học phái. Khuynh hướng này đã nhân cách hóa hay thần hóa một năng lực bên ngoài con người như năng lực thiên nhiên và quy luật xã hội đã chi phối con người.  Khuynh hướng này có ưu điểm là trong một thời gian dài lịch sử nhân loại nó đã đóng khuôn con người trong giới hạn an phận làm người; tránh được phần lớn xáo trộn do chính con người gây ra cho con người, tuy nhiên cái khuyết điểm của nó là đã làm chậm đà tiến hóa của nhân loại, quá bảo thủ không chịu phát triển trí tuệ của con người để tiến lên đổi mới cái phận làm người. Khuyết điểm đáng kể nhất khi các nhà lãnh đạo nhân loại, tín ngưỡng tôn giáo cũng như chính trị kinh tế, được gọi là Chân Sư đại diện cho đấng Quyền Năng tối cao không đóng đúng vai trò được giao phó là làm cho nhân loại sống ấm no, sống an vui trong thân phận làm người.
           
Ðây là trường hợp Chân Sư không còn Chân Sư nữa, không là vị Thầy chân chính nữa, họ là những Chân Sư hữu danh vô thực, gây rối cho nhân loại vì tranh chấp quyền lợi riêng tư, tranh chấp ý thức phi nhân bản.

*  Hạng tôn trọng trí năng: Có khuynh hướng cấp tiến hơn, chủ trương không tin ở quyền năng không lý giải được mà lại bắt con người tuân theo một cách mù quáng và để bị lạm dụng, do những xảo thuật trong mọi lãnh vực sinh hoạt hằng ngày. Hạng người này tin ở trí năng con người với khả năng trí tuệ của chính mình, con người phải giữ chủ động trong việc tạo được năng lực từ con người tác động đến ngoại cảnh, môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội cộng đồng. Nói cách khác, con người cần phải làm chủ tập thể con người.

Chủ trương tôn trọng trí năng con người có ưu điểm là đẩy mạnh sự tiến hóa chung của nhân loại, nhất là trong lãnh vực khoa học và kinh tế. Những phát minh sáng chế về khoa học đã làm phát triển kinh tế, thay đổi cuộc sống nhân loại từ nền kinh tế chăn nuôi, trồng trọt chuyển sang nền kinh tế kỹ thuật và tư bản, từ phạm vi nhỏ hẹp khu vực, quốc gia tiến đến phạm vi rộng lớn toàn cầu, quốc tế.
           
Trong lãnh vực triết học, tín ngưỡng và giáo dục, lịch sử văn hóa nhân loại đào thải dần dần những tà thuyết, tà đạo, không căn cứ vào tính nhân bản, đồng thời đề cao giá trị tình cảm cao thượng và trí tuệ sáng suốt ở con người. Bên cạnh những ưu điểm này, chủ trương về trí năng cũng đã vấp phải những khuyết điểm: đó là trí năng con ngươi chưa khám phá được hết những bí ẩn trong thiên nhiên và ngay cả trong sinh hoạt nội tâm của con người. Lập luận rằng trí năng con người biết được hết tất cả, chỉ có cái đã biết và cái chưa biết, không có cái gì là không biết, thật là cực đoan quá khích. Con người hiện tại thừa nhận là trí óc con người có giới hạn, vẫn còn có nhiều cái không biết được.

*  Hạng chưa định hướng: Ngoài hai hạng người trên, hạng thứ ba là hạng chưa định hướng chiếm đa số hơn cả. Hạng người này vừa hoang mang vừa thận trọng, chưa có quyết định một định hướng nào nhất định. Họ hoang mang vì nhìn rõ thực trạng xã hội loài người, thừa nhận cả ưu lẫn khuyết điểm của chủ trương tôn trọng thần quyền và chủ trương tôn trọng trí năng của con người. Họ thận trọng vì chưa chọn được một chủ trương nào khác thích hợp và hữu ích cho nhịp tiến bộ của văn minh nhân loại. Họ nhìn thấy trình độ văn hóa, về đức dục, về trí dục của nhân loại trên toàn thế giới còn dị biệt và chênh lệch quá nhiều giữa các dân tộc tiên tiến hay chậm tiến, phát triển hay chưa phát triển.
   
Về mặt tinh thần nhất là về khả năng trí tuệ, sự dị biệt, chênh lệch không kém. Song song với sự hiện hữu của các triết gia, khoa học gia, đạo sư, giáo sĩ, các nhà tâm lý học vẫn còn có nhiều dị đoạn mê tín, thờ cúng ma quỷ, quan ôn, tà thần, mà không biết đến cương vị và giá trị nhân bản con người sống trong thiên nhiên vạn vật. Những thái độ của hạng người này có ưu điểm là tránh xa được những khuyết điểm của hai loại tôn trọng thần quyền và tôn trọng trí năng. Sự kéo dài quá lâu tình trạng thiếu định hướng sẽ mang lại cho con người sự ngờ vực, làm ngưng trệ sự tiến hóa, và bi quan.

c). Chiều hướng vị nhân bản
Mặc dầu có những sự tranh đấu quyết liệt với nhau để tranh sống, con người lại nhờ có bản năng sinh tồn và đã tìm ra phương pháp để tự cứu. Sau đệ nhị thế chiến, hai quả bom nguyên tử nổ ở Nhật Bản đã chỉ chấm dứt được cuộc chiến quân sự, hay là chiến tranh vũ khí, hay là chiến tranh nóng. Bên cạnh đó con người còn có những loại chiến tranh gọi là chiến tranh ngoại giao, chiến tranh kinh tế, chiến tranh tôn giáo hay chiến tranh lạnh.

Sau khi bức tường Bá Linh bị sụp đổ, con người đã ngưng giết nhau bằng vũ khí. Con người cũng đã có những sự tương nhượng nhau vì quyền lợi chính trị và kinh tế, và tưởng rằng con người sẽ sống trong an vui, hạnh phúc; thật ra còn có rất nhiều sự xáo trộn làm mất quân bình trong cuộc sống nhân sinh như: chủng tộc, phân biệt màu da, giàu nghèo, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, trình độ, giáo dục, xung đột ý thức hệ, xung đột văn hóa, tệ nạn xã hội ma túy, ám sát, khủng bố, gây rối an ninh trật tự. Con người ngày nay dù được thỏa mãn về nhu cầu vật chất vẫn cũng không cảm thấy an vui, mà lại còn cảm thấy tinh thần bị căng thẳng và mệt mỏi hơn.

Cho tới ngày tổ chức quốc tế ra đời, Liên Hiệp Quốc và các tổ chức phụ thuộc trong mọi lãnh vực sinh hoạt chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, hội đoàn quốc tế, các giáo hội, các trung tâm nghiên cứu, trong chiều hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa, nhân loại hóa cuộc sống con người, chứng tỏ con người dần dần thức tỉnh nhận định rằng con người cần phải mở rộng con tim, khối óc, vòng tay thương yêu và nương tựa, cứu giúp lẫn nhau để cùng tiến tới văn minh tiến bộ. Ðó chính là tiếng nói lương tâm của nhân loại mà nó có giá trị nhân bản thiêng liêng không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, ý thức chính trị, giai cấp xã hội, giàu nghèo, nam nữ, hay tuổi tác. Hiện tượng quốc tế hóa thấy rõ ràng và phát triển nhanh chóng ở lãnh vực kinh tế. Rất nhiều tổ chức kinh doanh, sản xuất và thương mại có tầm mức hoạt động quốc tế, có nhiều chi nhánh rải rác tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới, thị trường quốc tế quan trọng hơn thị trường quốc nội rất nhiều.

Về mặt tư tưởng, con người có một nhân sinh quan quốc tế. Ngày nay con người được hiểu là một đơn vị trong cộng đồng thế giới, một thành phần của nhân loại chứ không được hiểu hẹp hòi là một cộng đồng của một nước hay của một dân tộc. Tư tưởng nhân bản này đề cao giá trị thiêng liêng của con người và đề cao cuộc sống nhân sinh có chiều hướng nhân bản hóa và quốc tế hóa mà từ lâu các chủ thuyết, các tôn giáo đã từng nói đến. Cầu mong cho chiều hướng nhân bản này sớm diễn tiến thành sự thực để anh em bốn bể trở thành một nhà, và cầu mong hết thảy mọi người làm tròn bổn phận làm người để cùng chung hưởng an vui hạnh phúc.

ÐẮC HỮU THIÊN
Katê 2002

Nguồn: Tập san VIJAYA số 3.

.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *